Showing posts with label Khuất Đẩu. Show all posts
Showing posts with label Khuất Đẩu. Show all posts

Sunday, January 5, 2014


Những con đom đóm

Khuất Đẩu


 

Nếu tôi nói rằng, có một thời tôi cũng là một nữ sinh xinh đẹp, mỗi khi đi học có một cái đuôi dài những chàng trai si tình, rồi ít lâu sau có chồng này nọ các thứ, bạn có tin không? Không tin hả? Vậy thì đừng hỏi tôi những chuyện lôi thôi quê quán mẹ cha, đừng hỏi tôi cớ sao lại trở thành một con đĩ rạc.

Không ai sinh ra để làm đĩ hay giết người.

Tôi không biết được tại sao lại làm cái nghề chết tiệt đó. Nếu hỏi cho ra lẽ thì chết sướng hơn.

Tôi chỉ biết ngày ngủ cho đẫy giấc để tối đến đổi trao những thứ tôi có, lấy những thứ tôi không có. Mà thời ấy, những thứ tôi không có nhiều đến nỗi không thể kể hết được. Những đường, những gạo, những mắm, những muối, những áo cho con, những quần cho mẹ.

Vậy đó, mọi sự trên đời đều có thể xảy ra. Nếu bạn không tin, tôi cũng chẳng biết nói gì hơn.

Chỗ tôi hành nghề là một cái ngã ba bậy bạ. Giao lộ của một con đường bắc nam với cao nguyên lúc nhúc người đi kẻ đến. Những xăng nhớt, cà phê, thuốc lá. Những gỗ lậu và không lậu. Một nơi mà bọn tài xế đường dài lúc đó còn sướng hơn cả vua.

Bọn tôi ba đứa từ Sài Gòn dạt ra, toàn là hàng hết đát. Đứa nào cũng trên dưới ba mươi. Vừa thiếu ngủ, vừa đói khát, vừa làm cái việc chó đẻ đó trên những miếng nilon trải ra trên bờ ruộng hay trong những cái ống bi bỏ rải rác trên đường, nên đứa nào cũng xanh xao, ốm yếu.

Đắp lên mặt cả ký phấn son, độn trước độn sau cũng chỉ lập lờ đánh lừa được một vài kẻ tay mơ mà thôi. Cái bọn chết dẫm đó khi nhận ra bị lừa đã mắng chửi bọn tôi không tiếc lời. Có đứa còn đá đạp như vừa bắt được tại trận một đứa móc túi.

Mà thôi, một khi đã rơi xuống đáy cuộc đời thì ầm ĩ làm gì. Rồi như con Lan nằm chết trên miếng nilon ướt nhẹp tanh tuởi. Như con Huệ sáng nào cũng ho ra máu. Và như con tôi mới chết một tuần.

Con tôi, bạn không tin tôi có con sao? Nó lên ba tuổi và tôi dám cá với bạn là chưa có đứa bé nào đẹp bằng. Tôi chỉ biết nó đẹp tuyệt vời mà không cần biết vì sao nó đẹp. Con tôi có một cái miệng mà khi nó nói dù bạn đang sắp chết cũng cố ngóc đầu lên nghe nó nói rồi mới chết.

Tôi dành hết mọi sự tốt đẹp cho nó. Để khỏi phải chung đụng trong cái ổ chuột tục tĩu bừa bãi quần lót rẻ tiền và nằm ngồi hớ hênh buông thả, tôi gửi nó cho một bà lão trong xóm. Đó là một bà cụ tốt nhất mà tôi gặp được trong đời. Mặc dù biết tôi làm cái nghề đáng xấu hổ, bà vẫn coi nó như cháu ngoại của bà. Khi nó chết đi, bà khóc còn nhiều hơn cả tôi.

Vì nó, tôi chìu tất cả những thằng đàn ông có tiền. Từ đứa con trai vừa mới bể tiếng đến ông già lụm cụm muốn nhìn ngắm sờ mó này nọ một chút trước khi nhắm mắt lìa đời. Từ một thằng bạo dâm như ác quỷ cho đến cả một thằng cùi sụp hết cả mũi.

Tôi là cái hố rác trong cái ngã ba hôi hám ấy. Nhưng đồng tiền tôi kiếm được, tôi tin là đồng tiền sạch. Tôi không cướp bóc của ai. Không tham nhũng, không thụt két. Những đồng tiền dù hôi thối thế nào nhưng rơi vào tay tôi vẫn sáng lấp lánh. Nó cho con tôi có sữa để uống, có áo mới để mặc, có một đôi giày bé xíu để mang.

Khi tôi dẫn nó đi chợ chơi, không ai tin nó là con tôi. Hết người này cho trái cam đến người kia cho cái bánh. Ai cũng muốn ôm nó vào lòng hôn hít chút đỉnh. Vậy mà nó chết đi chỉ sau một cơn sốt chó đẻ. Nó ra đi vội vàng, không kịp cho tôi chạy về nhìn mặt nó một lần cuối.

Dường như nó xinh đẹp quá, tinh khiết quá nên trời đã đem nó đi.

Ừ, thì đúng là tôi muốn nói đến những con đom đóm. Bạn sẽ hỏi vì sao lại có chuyện những con đom đóm trong câu chuyện chán phèo này? Ấy là có lần tôi đã mang về cho con tôi một con đom đóm.

Bạn cũng nên biết rằng khi làm cái việc đổi trao khốn nạn ấy giữa đêm tối trên cánh đồng là chìm ngập giữa muôn ngàn muỗi mòng ếch nhái. Ngoài tấm nilon chết tiệt không thể thiếu còn phải có một chiếc quạt cà lơ để mà phe phẩy. Trong khi cái thằng người chó chết ấy hì hục trên mình như một con lợn đói, thì tôi phải cần mẫn hết tay này mỏi rụi đến tay kia xuội lơ, để tống khứ cả tấn ruồi muỗi và cào cào châu chấu. Lại còn có cả rắn nữa. Một lần tôi chết khiếp khi có một con rắn nước lặng lẽ trườn sát cạnh tôi. Hôm đó, tôi đã nhảy dựng lên và thằng khách điên tiết đạp tôi một đạp ngã xuống ruộng.

Nhưng cũng có một lần, một con đom đóm đẹp và buồn không chịu được cứ nhấp nháy quanh quẩn bên tôi. Xong việc, tôi biến thành một đứa trẻ cố đuổi bắt cho bằng được.

Chưa có món quà nào làm thằng bé thích bằng. Nó nằm dài trên đất mở đôi mắt đẹp não nùng của nó ra nhìn cái ánh sáng chớp tắt kỳ diệu. Cái miệng xinh xinh của nó hỏi tôi đủ thứ. Nào ban ngày nó ở đâu, sao nó cứ chớp tắt hoài cả đêm vậy cũng như khi nó hỏi tại sao trên trời lại có nhiều sao và mẹ có đếm được hết không. Không nhớ rõ nó hỏi gì thêm mà tự dưng tôi nói, những cái chớp tắt ấy là linh hồn của những đứa bé trong đêm tối đi tìm mẹ.

Bạn có tin được không, nó liền thả con đom đóm ra khỏi chai. Đi đi, nó nói, đi tìm mẹ của mày. Khi con đom đóm bay ra khỏi nhà, nó nhìn theo rồi nói như một người lớn đã biết trước cái phút giây cuối cùng của đời mình.

- Khi con trở thành con đom đóm thì mẹ không được đi đâu à nghen. Con rất sợ lạc mẹ.

Tôi đã ôm nó, luôn miệng nói, mẹ sẽ không đi đâu hết, mẹ sẽ mãi mãi ở nhà với con.

Nhưng bạn biết đấy làm sao ở nhà được khi chỉ cần nghỉ một đêm là đã thấy cái đói ầm ầm kéo tới. Tôi không bỏ đêm nào, ngay cả đêm nó lên cơn sốt rồi giận dỗi bỏ tôi mà đi! Và sau khi chôn cất nó xong tôi vẫn phải chui vào những ống bi hay nằm ngửa giữa đồng không mông quạnh để kiếm tiền trả nợ.

Một tuần qua đầu óc tôi mụ mị. Tôi không nhớ đã kiếm được bao nhiêu tiền, không nhớ đã phải chịu đựng bao nhiêu thằng đàn ông. Tôi gần như nằm trần truồng trong ống bi tối tăm với rắn rít, muỗi mòng oàng ương và cóc nhái, lâu lâu lại có một thân thể nhớp nháp hôi hám lì lợm như những con linh cẩu ở hoang mạc châu Phi mò tới.

Đó là lòng tốt đau thắt ruột của bạn bè sẻ chia nhường nhịn. Tiền thì chẳng những họ không có đủ mà nếu có họ cũng chẳng đành lòng nào móc ra khỏi túi. Thà cắt cổ còn hơn. Nhưng bắt được khách là họ mềm môi dẫn tới chỗ tôi. Để cho mày trả bớt nợ, bọn họ nói.

Nhận cái lòng tốt ấy cũng có nghĩa là sớm nhận trước cái chết.

Sau một đêm, hai đứa bạn phải khiêng tôi ra ngoài bỏ lên xe bagác chở về nhà. Bọn họ đốt lửa hơ ấm chân tay, đánh dầu cạo gió, bón từng thìa sữa thìa cháo để rồi chiều tối lại tô son vẽ mày xịt nước hoa đủ chỗ, lại cắp theo miếng nilon và chiếc quạt lên đường như một công nhân tỉnh rụi đi làm ca đêm.

Không còn hơi sức đâu mà khóc nhớ con.

Nhưng con mụ mẹ mất nết không nhớ nổi thì đứa con linh hiển lại nhớ.

Bạn hãy tin tôi đi. Thằng bé nhớ mẹ đã lặn lội trên khắp cánh đồng để tìm mẹ. Lúc ấy có lẽ đã nửa đêm. Người ngợm đã bớt ồn ào. Những gã tài xế sau khi đã bán bớt hàng can xăng, hay để cho bọn con buôn chỉa bớt phân urê, túi đứa nào cũng chật cứng tiền. Giờ là lúc bọn họ ngồi trước một bàn ăn ê hề rượu thịt. Ăn xong lại nhởn nhơ đi tìm gái.

Tôi vẫn nằm dài trong lòng ống bi, khi nào có khách thì sẽ dùng áo quần làm gối.

Một bóng đen chui vào. Đóm lửa trên điếu thuốc chuyển động. Tôi nói tắt thuốc giùm đi. Hắn nói tối bỏ mẹ. Tôi nói, nhanh nhanh lên, công an tóm được thì tiêu luôn. Hàng họ ra sao mà đòi nhanh, hắn vừa nói vừa bật hộp quẹt soi vào mặt tôi, rồi bắt đầu sờ nắn. Nhão bấy ra rồi, hắn nói. Nhưng mà hàng thiệt, tôi nói, chẳng tin lột ra coi. Bao nhiêu? Hắn hỏi. Năm chục, tôi nói. Ối giời ơi, đắt bỏ mẹ! Hắn kêu lên. Hết một chục cho các xếp, tôi nói, một chục dắt mối. Muốn rẻ thì ra ngoài bờ ruộng. Bốn chục nghe, hắn nói, trông mặt cũng được đấy.

Tôi cũng định ừ thì bất ngờ một con đom đóm nhấp nháy muốn bay vào. Tôi lạnh cứng người, mồm miệng không mở ra được. Tôi vừa sợ, vừa buồn.

Tôi chưa biết mình sẽ làm gì thì hắn nói, thôi cũng được, cởi ra. Bạn biết sao không, ngay lập tức tôi vùng dậy chui ra khỏi ống bi. Làm như thể tôi là gái chính chuyên và câu nói đó là cả một sự xúc phạm thô bỉ. Mặc cho hắn léo nhéo trong đó, tôi ngước mắt lên trời tìm con đom đóm. Nó bay lên khá cao rồi tan mất trong trời đêm tím sẩm.

Tôi rất buồn. Một mình lang thang trên những bờ ruộng. Sương đêm bắt đầu xuống làm cho hai ống quần ướt nhẹp. Sau lưng tôi là con đường sáng tối nham nhở bởi những ánh đèn.

Bỗng dưng tôi nhớ lại một thời xa xôi lắm. Một thời tôi muốn quên bất ngờ hiện ra mồn một. Tôi đau xót thấy cha mẹ tôi. Tôi cũng thấy chồng tôi với đôi mắt buồn như con trai tôi. Cho dù bạn không tin, nhưng tôi biết, nếu trước mặt là con sông thì chắc chắn tôi đã nhảy xuống rồi.

Đúng lúc ấy con đom đóm trở lại. Không phải một con mà nhiều con. Rất nhiều.Ánh sáng của chúng làm sáng cả một quầng lúa xanh to như một nong tằm.

Chúng vây quanh một hoàng tử đi lạc vừa trở về. Một hoàng tử quá xinh đẹp, quá tinh khiết. Tôi tin hoàng tử đó chính là con tôi.

Và, một người mẹ có một đứa con như thế thà ăn xin, thà chết đói, chứ không thể làm đĩ!

Bạn hãy tin giùm tôi đi. Tôi xin thề trước linh hồn của con tôi là ngày mai tôi sẽ bước chân ra khỏi vũng bùn.

Ngày mai, con ơi, mẹ sẽ phải sống sao cho xứng đáng với con. Xin con hãy cứu giúp mẹ, hãy nâng giùm mẹ lên.

Lũ đom đóm từng cặp, từng cặp tản ra, mất hút. Linh hồn bé bỏng của con tôi cũng đã bay đi. Chắc nó cũng yên lòng khi nghe lời hứa của tôi.

Mạnh mẽ hơn bao giờ hết, tôi cũng hướng tới phía trước mặt, bước đi.

Bỏ lại đằng sau cái ngã ba bậy bạ, bỏ lại những cái ống bi, những bờ ruộng, tôi đi ra biển.

Tôi đi. Đi mãi. Khi ngôi sao mai tuơi tắn, xinh đẹp hiện ra thì cũng là lúc tôi nghe mùi biển mặn.

Tôi nhảy ào xuống biển.

Như ngày xưa mẹ tôi thường bắt tôi dầm mình trong nước muối để tắm cho sạch ghẻ. Tôi dầm mình trong nước mặn, không phải để chết mà để sống!

Và, sống đến tận hôm nay là nhờ cái ánh sáng xanh biếc mỏng nanh trên lưng những con đom đóm. Đó cũng là ánh sáng của con trai tôi.

Khuất Đẩu
(Đầu năm 2014, đọc lại, sửa chút ít)
Nguồn:
Sáng Tạo

Monday, September 23, 2013

ĐỂ TANG CHO SÁCH
KHUẤT ĐẨU

Bà tôi thường than thở, hết một nửa cơ nghiệp của nhà này đã tan tành theo sách. Một nửa cơ nghiệp nói cho to, cho xứng với nỗi đau tiếc của của bà, chứ thực ra chỉ vài trăm cuốn sách của ông tôi thôi. Có điều, đó không phải là những quyển sách bèo nhèo giấy rơm thô kệch, đang tràn ngập trong các hiệu sách, trong trường học và trong thư viện. Chưa nói tới nội dung, chỉ mới lật qua vài trang mờ nhoẹt vàng đục với những con chữ ốm o đói khát như những người bị sốt rét rừng là đã thấy chán lắm rồi.

Sách của ông tôi, bạn chỉ ngắm không thôi cũng đã thấy thích. Những cuốn tự điển của Pháp, của Việt, thư pháp của Trung Hoa, những sách thuốc, sách khoa học, những bộ tiểu thuyết của các nhà văn danh tiếng, những sách học làm người, những sách triết…đứng sát bên nhau phơi cái gáy mạ vàng như cả một đội ngự lâm quân thông thái và oai vệ. Trang nghiêm nhưng không lạnh lẽo, bọn họ là thầy là bạn của ông tôi. Và vì vậy, bạn cũng như tôi chỉ được phép đứng nhìn mà thôi.

Ông tôi là một người mê sách (cũng lại là cách nói vừa tấm tức vừa giận hờn của bà) mê hơn cả vợ con. Nếu bảo rằng “thư trung hữu nữ nhan như ngọc”, thì ông tôi tuy đã già nhưng lại có đến những mấy trăm người đẹp như các vua chúa ngày xưa, nên bà tôi “ghen” cũng phải.

Ông mê sách như người mê đồ cổ. Nghe ở đâu có sách quý là ông tìm tới dù có phải tốn kém tàu xe và phải bỏ ra cả một mòn tiền lớn để “rước” người có nhan như ngọc đó về, ông cũng dám chơi một phen cho thõa chí. Như cuốn Tự vị của Paulus Của, nghe đâu như là ấn bản đầu tiên của một ông cụ nào đó bắc bực làm cao đến tận giời, ông tôi đã phải lặn lội vào tận xứ Thủ Dầu Một xa lắc xa lơ để mua cho bằng được. Công cuộc mua quyển sách đó, chẳng những khiến ông mất đến mấy chỉ vàng, mà còn ốm một trận thừa sống thiếu chết.

Cuốn sách cũ đến nỗi như đã ngàn năm tuổi. Còn hơn một người chơi đồ cổ, ông tôi lại phải tốn thêm một món tiền và nhất là tốn rất nhiều thì giờ để nài nĩ và kiên nhẫn ngồi chờ anh thợ đóng sách đóng lại giùm. Lúc này quyển sách đối với ông như một con bệnh thập tử nhất sinh và anh thợ đóng sách cứ như một bác sĩ. Khi anh thợ tháo bung sách ra, ông đau nhói như thể gan ruột của mình cũng bị lôi ra như thế. Ông hồi hộp theo dõi từng mũi chỉ khâu, nín thở xem anh ta cắt xén, làm bìa. Cho đến khi sách được làm mới một cách khỏe mạnh, xinh đẹp, ông ôm quyển sách trước ngực như một người mẹ ôm đứa con bé bỏng vừa được bác sĩ cứu sống. Ông hết lời cảm ơn anh ta, đưa cho anh một tờ tiền lớn và hào phóng không nhận tiền thối lại. Đem quyển sách về nhà, ông lại mất cả buổi ngồi ngắm đến nỗi quên cả bữa cơm khiến bà tôi phải giục.

Đó là với những sách cũ quý hiếm. Còn sách mới, ông lại “phá của” một cách không giống ai. Sách nào ông cũng phải mua đến những hai quyển, một để đọc và cho mượn, một để nguyên không đụng tới. Những quyển sách để nguyên ấy nằm im trong tủ kính, mỗi lần mở ra là thơm nồng mùi giấy mới và mực in. Đối với ông, đó là một mùi thơm huyền hoặc đầy quyến rủ và mê đắm như những người nghiện nghe thấy mùi thuốc phiện. Chẳng những chỉ mùi thơm trinh nguyên không thôi, quyển sách vẫn còn trinh trắng khi hãy còn những lề chưa rọc.

Học cách người xưa, không để của cải cho con cháu mà để sách, nên giá như có phải vì thế mà tiêu hết cả cơ nghiệp, ông tôi cũng không tiếc. Chỉ có một điều khiến ông băn khoăn, ấy là trong đám con cháu thực sự chưa có một người nào đủ để ông tin tưởng. Gạt hết những đứa chỉ biết có nhà to xe đẹp, những đứa chỉ biết vung tiền trong các cuộc ăn chơi, suốt một đời chưa đụng tới một quyển sách nào, những đứa mà ông bảo là trong đầu toàn chứa những thứ vớ vẩn nếu không muốn nói là hôi thối ấy, còn lại chỉ vài đứa có để mắt tới sách, nhưng với một thái độ hờ hững, một đôi khi thô bỉ xúc phạm đến sách.


Ông ghét nhứt ai đó đọc sách mà miệng cứ nhai nhồm nhoàm, vừa đọc vừa tán chuyện, bạ chỗ nào cũng đọc ngay cả trong nhà cầu, đang đọc mà có ai ới lên một tiếng là ném ngay cái xạch sau khi đã tàn nhẫn xếp lại một góc để làm dấu, rồi bỏ đi mà không cần biêt tới quyển sách có thể bị ướt, bị bẩn hay bị cháy. Ông cũng không chịu được cái cách lật sách thô bạo bằng cả bàn tay úp lên trang giấy hay thấm nước bọt trên đầu ngón tay. Đó là cách cư xử của kẻ phàm phu tục tử, của phường giá áo túi cơm. Lật sách mà như thế có khác gì sàm sỡ nếu không muốn nói là cưỡng bức. Phải lật như những nhà sư nâng nhẹ một trang kinh hay là như khẽ lay một người đẹp đang ngủ.

Đối với ông, đọc sách là để được tiếp cận với những tâm hồn ngoại hạng, cho nên trước hết phải tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề, phải “dọn mình”như con chiên quỳ trước Chúa, như nhà sư đảnh lễ trước bàn thờ Phật. Chẳng những sạch ở phần xác mà còn sạch cả phần hồn. Nghĩa là không để những giận hờn phiền muộn hay những ý nghĩ ô trọc dính bám cho dù chỉ một tí trong đầu. Chỉ đọc trong lúc thanh tịnh giữa khuya hay khi gần sáng tinh mơ. Đọc với hương trầm cọng với mùi hương ngai ngái của giấy mực, hương của sương đêm loáng thoáng hay hương của nước mưa mát dịu. Đọc là mở hồn ra để hơi thở của sách ùa vào căng buồm lên cho con thuyền bé nhỏ của mình được dọc ngang trên biển học mông mênh.

Đương nhiên là ông tôi khó tính nhất nhà. Cái viện sách bé nhỏ của ông là một nơi khả kính, thâm nghiêm như một ngôi đền không một ai ngay cả bà tôi dám động tới. Bảy mươi năm sống trên đời của ông thì hết một nửa là ở trong cái gian phòng đựng đầy sách với mùi hương và sắc màu của những tâm hồn kỳ vĩ. Dạo ấy, mặc dù được cưng chiều và rất có triển vọng được ông tin tưởng, tôi cũng chưa được một lần đọc một quyển sách nào trong tủ sách ấy. Ông bảo tôi chưa đủ tuổi và chưa học được cách nâng niu gìn giữ theo cách gần như tôn thờ, thì đọc chẳng ích lợi gì mà còn “giết” sách. Theo ông, đọc vì tò mò, đọc như “lua cơm”, đọc như ngốn ngấu thì cả đầu óc mình chỉ là một bãi hoang chứa đầy những xác chết của sách bị vất ngổn ngang mà thôi. Đọc là phải ngấm từng chữ từng câu, phải để nó bén rễ trong đầu mới có thể thành cây cho trái ngọt.

Năm tháng qua đi, ông tôi âm thầm làm một cuộc chuyển giao lặng lẽ. Tiền bạc trong nhà cứ cạn dần nhưng sách của ông lại đầy lên, phải đóng thêm tủ kê thêm kệ. Cô chú tôi biết ý ông, nên mừng tuổi không bằng trà ngon rượu bổ, mà bằng những phong bì ít nhất cũng đủ cho ông mua được một hai quyển sách. Những lúc ấy ông vui như một đứa trẻ lên 5 được nhận tiền lì xì. Rồi ông đi ra tiệm sách, khệ nệ ôm về những chồng sách mà ông ao ước nhưng chưa đủ tiền mua. Ông ve vuốt từng cái bìa, ngắm nghía từng con chữ, đê mê những sách của Lá Bối, An Tiêm, mơ màng với những tác giả Saint Exsupéry, Bùi Giáng…Giá như ông sống đến một trăm tuổi và giá như ông còn có đủ tiền thì cái viện sách của ông sẽ kín đặc những sách. Ông sẽ ngồi giữa những bức tường dày cộm thơm tho đó như một anh lính già đang tử thủ trong một cái lô cốt văn hóa.

Sau tháng tư năm ấy, cái tháng tư mà dù nằm dưới mộ sâu ông vẫn còn đau đớn, những cuốn sách của ông tưởng sẽ sống đến ngàn năm đã bị bức tử một cách oan nghiệt.

Khi người ta đội lên đầu những quyển sách của ông, có những quyển già như một ông tiên đầu bạc, có những quyển xinh tươi như những thiếu nữ trẻ trung, những chiếc mũ có tên là “nọc độc”, là “đồi trụy”, là “phản động” thì hơn ai hết ông hiểu đó là một lời tuyên án tử hình.

Ông suy nghĩ lung lắm, không phải để tìm cách chôn dấu hay tẩu tán. Mà suy nghĩ làm sao để chọn cho sách một cái chết xứng đáng với lòng tin yêu và kính trọng của ông.
Một đêm thức trắng.
Rồi hai đêm thức trắng.

Ngày thường ông bình tĩnh là thế nhưng lúc này, ông bối rối run rẩy. Có lúc mặt ông đỏ bừng và mắt ông lóe lên những tia lửa căm hờn. Cả nhà chẳng ai dám hỏi nói gì với ông. Giống như một con sư tử già bị săn đuổi cùng đường, lâu lâu ông lại gầm lên một cách tuyệt vọng.

Cuối cùng ông đã chọn cho mấy trăm cuốn sách một cái chết dũng cảm. Đó là chính ông tự mình đốt sách.

Một quyết định cháy lòng.
Tôi cũng được dự phần trong cuộc hỏa thiêu đau đớn ấy, bằng cách giúp ông bê hết sách ra sân. Dù đem đi đốt nhưng ông không cho phép tôi làm rơi rớt xuống đất, không được nặng tay, mà phải sẽ lén nhẹ êm như đang bồng một em bé say ngủ. Phải rồi, những cuốn sách của ông đang say ngủ. Đánh thức chúng dậy, ông sẽ không chịu nổi những tiếng khóc mà chỉ riêng ông mới nghe được mà thôi.

Sách được xây thành một cái tháp quanh những thanh củi chẻ nhỏ. Ông không muốn đốt chúng bằng xăng hay dầu. Ông lại càng không muốn xé sách ra từng mảnh nhỏ để đốt. Xé ra là làm chúng đau. Và làm cho chúng đau trước khi chết là tội ác. Một người coi sách là sinh vật sống, để cả đời nâng niu bồng ẳm, vậy mà phải giết do chính bàn tay của mình, bạn phải biết là ông tôi đã đau khổ đến nhường nào.

Đó là một đêm tháng năm lặng gió. Cây cối im ngủ. Những ngôi sao như tan đi trong khói trời mờ đục. Ông tôi cử hành lễ đốt sách cũng bi tráng và lẫm liệt như Huấn Cao cho chữ trong ngục. Ông mặc toàn đồ trắng, cắm một cây đuốc giữa trời, khấn khứa rì rầm rồi lạy bốn hướng mỗi nơi một lạy. Xong ông lấy cây đuốc đang cháy đặt vào giữa tháp. Dứt khoát và quyết liệt như cái cách các võ sĩ đạo đâm kiếm vào bụng.
Lửa bắt rất nhanh, chỉ trong phút chốc đã bắn vọt lên đầu ngọn tháp.
Đã nghe mùi mực và mùi giấy.
Đã nghe tiếng vặn mình của các bìa sách.
Đã nghe những âm thanh líu ríu như run như rẩy của những trang sách méo mó cong vênh.
Lửa trào ra như từ miệng hỏa diệm sơn.
Lửa ôm choàng lấy sách, hôn dữ dội bằng đôi môi bỏng cháy.
Sau cùng, cái tháp bằng sách đỏ rực như một trái tim để lộn ngược.
Ông tôi ngồi xếp bằng, cố giữ nét mặt trầm tĩnh một cách cao cả. Không một giọt nước mắt cho dù là vì khói cay xè. Ông như thượng tọa Thích Quảng Đức đang ngồi kiết già với ngọn lửa bao quanh. Có thể nói, chính ông cũng đang tự thiêu. Bất giác tôi cảm thấy muốn khóc vì lo sợ. Đến một lúc nào đó, biết đâu ông đứng bật dậy bước thẳng vào ngọn lửa.
Ông chết theo sách.

Đó là một cái chết đẹp, xứng đáng với một người yêu sách như ông.

Nhưng ông chưa muốn chết vì ông còn phải để tang cho sách như một đứa con chí hiếu. Ngay lúc lửa tàn, ông quỳ xuống lạy ba lạy. Rồi ông kiên nhẫn ngồi đợi cho tất cả biến thành tro nguội. Ông bảo tôi hốt tro vào bao, cất vào tủ rồi mới chịu đi vào nhà. Gần như suốt đêm ông không ngủ. Bà tôi than thở là nghe tiếng dép của ông kéo lê lệt sệt mãi tới tận sáng.

Hôm sau, ông bảo tôi thuê thợ đóng nhiều chiếc hộp để đựng tro. Mỗi chiếc để một ngăn tủ. Ông khóa lại và dặn không được dùng vào việc gì khác ngoài việc gìn giữ những chiếc quách ấy. Hơn 30 năm sau, cái tủ đựng đầy những hộp tro vẫn đứng im đó như một nhà mồ. Ngày giỗ ông, chúng tôi cũng đem một bát nhang đến thắp trên đầu tủ. Có cảm giác như hồn ông và hồn sách cùng lảng đảng bay về.

Vẫn chưa hết chuyện về ông tôi đâu. Một tháng trước ngày mất ông muốn tôi làm cho ông những tấm mộ bia bằng giấy. Ông đưa tôi một danh sách dài những quyển sách bị đốt, cứ mỗi tấm bia đề tên một quyển sách. Hơn mấy trăm cái bia như thế, phải mất cả tuần mới làm xong. Những mộ bia không có ngày sinh nhưng có chung một ngày tử. Chúng được xếp lên kệ thay cho hàng trăm cuốn sách đã chết tập thể.

Cả viện sách của ông giờ đây biến thành một nghĩa trang.
Ông trịnh trọng chít khăn trắng, lên nhang đèn rồi cung kính khấn vái như trước bàn thờ tổ tiên. Trong những lời rì rầm, nhiều lúc bỗng vang lên như tiếng khóc, ta là người có tội, có tội. Theo như tôi hiểu đó là cái tội không bảo vệ được sách, tội với các tác giả, tội với những thợ sắp chữ ở nhà in và xa hơn nữa là có tội với giấy và mực.

Ông biết ơn họ bao nhiêu thì bây giờ ông ray rứt vì mình có tội bấy nhiêu.
Từ đó ông ăn ít ngủ ít. Ông đem từng tấm bia đặt lên bàn, lặng lẽ ngồi ngắm hằng giờ như đang đọc sách. Mỗi tấm bia gợi nhớ đến màu bìa, co chữ, tranh vẽ và cả nội dung mà chỉ có ông mới thấy được, hiểu được. Ông như sống lại những năm dài trước đó với những niềm vui kín đáo khi tìm được sách quý, hay mua được những sách hay. Những lần như thế, ông tự thưởng cho mình khi thì một bình trà, lúc một chung rượu hay tách cà phê và những điếu thuốc thơm thay cho hương trầm.

Rồi đến một lúc ông không ăn mà cũng chẳng ngủ. Người ông khô kiệt tái xám. Ba tôi và các chú đi cải tạo chưa về đương nhiên là khoét sâu vào hồn ông những nỗi buồn lo khôn nguôi. Nhưng dù vậy, tận cùng của đêm thì cũng phải sáng. Ông có thể đợi đến mười năm hay hai mươi năm. Chỉ có những quyển sách bị đốt là không đợi được. Ông nói với bà, biết trước như vầy tôi đã để hết tiền cho bà chứ mua sách làm chi. Bà tôi cay đắng, ai mà có con mắt sau lưng.

Buổi chiều cuối cùng ngồi bóp chân cho ông, tôi nghe ông hỏi, cháu thấy ông thế nào? Tôi nói, dạ, ông nên ăn chút cháo, trông ông gầy lắm. Không phải, ông nói, da ông thế nào, đã ngã thành màu đất chưa? Không biết da màu đất là màu gì, tôi nói đại, chưa ông à. Ngã màu đất là sắp chết đấy cháu, ông nói. Ông đã có ý để lại sách cho cháu, nhưng ta tính làm sao được bằng trời tính. Cháu nhớ giữ giùm ông cái tủ và mấy cái kệ.

Nghe ông nói, tôi thấy da ông quả thật rất giống với màu đất bạc phếch, lạnh lẽo ở nghĩa địa. Da ông là da của một người đã chết từ lâu nhưng chưa chôn. Hay là ông đã chết từ cái đêm hôm ấy. Hồn ông đã cùng với hồn sách nương theo khói bay lên tận trời cao. Cái miền đất ồn ào đầy ô trọc và thù hận này biết đến bao giờ mới lại có được những con người, những quyển sách biết yêu quý tương kính lẫn nhau như thế. Chính lúc này tôi mới thấy thấm thía nỗi đau mất sách của ông.

Tôi vừa buông tay ra thì ông ngừng thở. Ông chết nhẹ nhàng như gấp lại một cuốn sách. Tính ra, ông đã để tang cho sách đúng một trăm ngày./.

17/10/2010
- See more at: http://elib.quancoconline.com/ui/viewcontent.aspx?g=44534#sthash.gE1t5Cj9.dpuf