Sunday, January 6, 2013


CHUYỆN VỢ “ÔNG NHÀ THƠ”

PHẠM THÀNH CHÂU

 

Tác giả sinh quán tại Hội An, Quảng Nam, tốt nghiệp Đốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, hiện định cư tại Virginia. Nhà văn Võ Phiến nhận xét về các nhân vật trong truyện của Phạm Thành Châu, phải kêu là tuyệt vời. Sao mà họ chung tình đến thế.

Ở hải ngoại, mười ông Việt Nam sồn sồn, cỡ trên dưới sáu mươi tuổi thì có đến chín ông là nhà thơ. (Xin bạn đồng ý với tôi, vì chính bạn cũng từng làm thơ, từ thời còn đi học ở quê nhà, nhưng không gửi đăng báo vì khiêm tốn đấy thôi). Ở hải ngoại, cuộc mưu sinh tuy bận rộn nhưng một lúc nào đó, những "rung động bất chợt của những nỗi nhớ, những kỷ niệm…" khiến tâm hồn lãng mạn cảm hứng thành những vần thơ, phải ghi xuống để khi rãnh rỗi, đem ra ngâm nga, tự thưởng thức. Và "chủ đề" của các ông, bà hiện nay là "quê cũ và người xưa".

Sự thực, với các ông, trong chín nhà thơ đó, hết tám ông, thời còn đi học không hề có người yêu, yêu thầm thì họa may. Lý do đơn giản là thuở học trò, cứ vác quả tim cô đơn đi cà lơ thất thểu ngoài đường chứ chẳng cậu nào dám tán tỉnh hay tỏ tình với người đẹp. Nhưng trong "thơ văn hoài niệm" ông nào cũng sắm cho mình một lô các cô nữ sinh, xinh đẹp, ngây thơ... và nhất là cũng yêu "chàng" (nhà thơ) say đắm. Nhưng đau khổ thay! Người yêu lên xe hoa với người khác khiến chàng thành "thi sĩ".

Người làm thơ, trước hết là để cho mình ngâm nga, sau đó (tự thấy hay) mới quyết định mời thiên hạ cùng thưởng thức. Thời đại khoa học tân tiến, chỉ cần mở computer tung thơ mình lên "net" là có hàng trăm, hàng nghìn người đọc. Rồi thì những hồn thơ đồng cảm tìm đến nhau. Trước còn sơ giao, sau thành thân thiết. Khoảng năm 1994, ở hải ngoại, có Hội Thơ Tài Tử, qui tụ hàng nghìn nhà thơ trên khắp thế giới. Họ góp thơ để phát hành những tập thơ "Cụm Hoa Tình Yêu" dày năm, bảy trăm trang của mấy trăm nhà thơ, lại còn hẹn nhau cứ mỗi hai năm, cùng họp mặt để đem thơ mình ra ngâm nga, cùng thưởng thức, sau đó rủ nhau đi thăm thắng cảnh, đi ăn uống, vui chơi… Nơi họp mặt thường là các thành phố đẹp ở Mỹ, Châu Âu… Mới đây nhất là cuộc họp mặt của Hội Thơ Tài Tử ngày 14 tháng 9 năm 2012 tại Dalas, Texas kỷ niệm 18 năm thành lập, qui tụ nhiều nhà thơ khắp thế giới, có cả những nhà thơ từ Việt Nam sang. Trên thế giới, xưa nay, chưa có hội thơ nào qui tụ nhiều nhà thơ đến như vậy. Tuy vậy còn có hàng trăm thi sĩ người Việt hải ngoại không vô hội, họ làm thơ chỉ phổ biến trong bạn bè, thậm chí để riêng mình ngâm nga.

Tôi biết có một ông nhà thơ thuộc loại đó. Nhà thơ Xuân Tình với tập "Thơ Xuân Tình". Tình yêu trong thơ ông ta mênh mông, lai láng như muốn tràn ra ngoài những giòng chữ.

Chuyện đó có gì lạ đâu?

Điều lạ mà tôi sắp kể ra đây lại là bà vợ ông nhà thơ đó.

Bà vợ ông nhà thơ làm chủ hai tiệm nail (làm móng tay), khá lắm, nên ông chồng ở nhà, đi vô đi ra và làm thơ chơi để giết thì giờ. Vợ ông ta rất yêu chồng, yêu luôn thơ của chồng. Làm chủ tiệm nail lại phải lo chuyện gia đình, chợ búa, nấu nướng, giặt giũ áo quần, rửa chén bát... bận túi bụi, vậy mà về đến nhà là ôm chồng hôn và âu yếm hỏi "Bữa nay ông xã em làm được mấy bài thơ? Đọc cho em nghe với!" Trong khi ông chồng đi lấy mấy bài thơ vừa sáng tác thì bà vợ nấu nước pha trà. Hai người ngồi ở phòng khách, vợ tựa đầu trên vai chồng, lắng nghe chồng ngâm thơ. Và dù là những câu thơ bí hiểm cách mấy, bà vợ cũng suýt soa khen hay. Chuyện ngắn là chuyện dài "cô đọng", bài thơ là chuyên ngắn "cô đọng" Bà ta không cần biết điều đó. Bà chỉ cảm nhận được chồng mình có gì đó cao quí hơn người khác. Chồng bà là "nhà thơ". Bà yêu chồng, yêu hồn thơ của chồng. Sau khi cùng chồng uống chén trà thơm, bà ta hôn chồng lần nữa rồi mới đứng lên lo chuyện cơm nước. Bà ta nấu vài món thôi, nhưng nấu nhiều. Lũ con, nhà gần đấy, đã nên vợ nên chồng, nhưng vẫn giữ thói ăn bám mẹ. Buổi chiều chúng chỉ chờ mẹ gọi là cả gia đình kéo đến ăn, đã khỏi nấu nướng mà được mẹ cho ăn ngon còn bới đem về để sáng mai đem đi làm.

Chuyện hai ông bà yêu thơ hơi quá đáng, có thể làm bạn nghi ngờ tôi "sáng tác". Làm gì có bà vợ yêu chồng kiểu đóng kịch như vậy? Xin bạn kiên nhẫn đọc những chuyện vô lý tiếp theo. Vợ chồng tôi có quen với vợ chồng nhà thơ nên mới biết mà kể cho bạn nghe.

Ông nhà thơ nầy là một ông cù lần. Suốt ngày ở trong nhà, cứ lừ nhừ, khật khừ như con gà rù, chẳng bạn bè, chẳng hội đoàn, ngay cả hội "Thơ Tài Tử" ông ta cũng không tham gia. Một lần gặp vợ tôi, bà chủ tiệm nail khoe thơ chồng mình hay lắm, tôi hỏi sao không gửi đăng báo để thiên hạ cùng thưởng thức? Bà ta nói rằng, có gửi nhưng không thấy báo nào đăng! Tôi mới tiết lộ cho bà ta cái "mánh" giống như của tôi (mỗi khi gửi truyện đến các báo) "Chị gửi khoảng chục bài thơ của ông xã chị, kèm theo một chi phiếu mua một năm báo, họ sẽ coi như "bài cậy đăng". Nhất định thơ của ông xã chị sẽ xuất hiện trên báo đó". Bà ta bảo rằng không biết làm cách nào? Tôi bảo cứ ký cho tôi năm ba cái chi phiếu, tôi sẽ lo giùm cho.

Vậy là cả năm tờ báo, thuộc loại "văn học nghệ thuật" ở Cali., Texas đều đăng thơ của ông chồng bà chủ tiệm nail. Bà ta đem mấy tờ báo ra tiệm khoe với khách hàng người Việt rồi cám ơn tôi rối rít "Ông xã em vui lắm. Không ngờ thơ mình được các báo giá trị đăng. Cám ơn anh nhiều lắm" Như vậy là bà ta không cho chồng biết đó là "những bài thơ cậy đăng". Tôi bảo "Có một cách làm cho ông xã chị khoái hơn nữa là ra mắt thơ" Chuyện móng tay, móng chân thì bà ra rành, nhưng về văn học nghệ thuật thì bà ta lại phải nhờ tôi "Em có nghe chuyện ra mắt thơ, nhưng không biết làm cách nào? Anh có thể giúp em được không? Miễn ông xã em vui thì tốn kém bao nhiêu em cũng không ngại" "Ra mắt thơ nhiêu khê hơn đăng thơ trên báo, nhất là ông xã chị không quen biết nhiều với báo chí, ít giao thiệp với đồng hương địa phương ở đây. Tôi lên chương trình như thế nầy để chị về bàn với ông xã chị trước khi quyết định vì tốn tiền lắm. Trước hết là in những bài thơ của ông xã chị thành tập, gọi là "thi phẩm". Muốn chơi sang thì nhờ một ông nhạc sĩ phổ nhạc khoảng mươi bài thơ, thuê ca sĩ hát và thu vào CD, sau đó tổ chức một buổi ra mắt thơ, có ca sĩ hát "thơ phổ nhạc". Hôm ra mắt thơ, ông xã chị ngồi sẵn chỗ ra vào, ký tặng thơ và CD. Nhớ đừng ép mua, kiểu bắt chẹt đó khiến người ta bực mình. Người ta đến là may lắm rồi. Muốn buổi ra mắt thơ được đông vui, chị phải quảng cáo trên đài phát thanh, trên TV, trên báo chí thật rầm rộ. Nhưng tôi báo trước là chục nghìn không đủ đâu" Bà ta sáng mắt lên "Bao nhiêu cũng được miễn sao chồng em được mọi người biết tên, báo chí, truyền hình, phát thanh đưa tin, gọi chồng em là "thi sĩ" là chồng em vui rồi. Anh cố giúp giùm em. Anh đừng ngại chuyện tiền bạc" "Tôi chỉ giới thiệu những người lo chuyện ra mắt thơ với chị, họ sẽ sắp xếp mọi việc. Chị yên tâm".

Vài tháng sau, việc in ấn, phổ nhạc, thu CD đã xong, tôi gọi cho một ông trưởng ban nhạc kiêm MC (người điều khiển chương trình), chuyên phục vụ đám ma, đám cưới, hội xuân, ra mắt sách... nhờ ông ta lo giùm, rồi gọi một ông bạn, nhà "phê bình văn học nghệ thuật" ở Cali. nhờ giới thiệu tập thơ. Ông ta bảo, đây là dịp qua Virginia thăm bạn bè mà không tốn tiền nhưng phải gửi cho ông ta tập thơ rồi lo cho ông ta vé máy bay, khách sạn và vài chai rượu là đủ, và muốn ông ta nói trong bao lâu (nửa giờ, một giờ?), ông ta cam đoan sẽ làm phổng mũi tác giả và khán giả sẽ vỗ tay liên tục. Ông bạn "nhà phê bình" nầy tính hơi khùng khùng, nhưng cũng rất khôn. Ông ta góp nhặt những đoạn văn từ những bài phê bình, nhận định văn học trên các báo, xào nấu lại thành những bài thuyết trình hoa mỹ, thánh thót của riêng mình. Ông ta có khoảng năm, bảy bài thuyết trình tiền chế như thế, thủ sẵn, khi có người nhờ, giới thiệu một tác phẩm, thì chỉ việc lựa bài nào thích hợp với tác phẩm, nhét vào đó tên tác giả là thành một bài giới thiệu nghe rất mê ly. Một tập thơ, tập truyện, dở cách mấy mà qua tay ông ta với bài thuyết trình cũng trở thành "kiệt tác". Đương nhiên, tác giả sướng mê, khán giả cũng khoái lỗ tai.

Thật ra, tôi vốn tính lười. Vợ sai còn không chịu làm, hơi sức đâu làm chuyện tào lao! Nhưng vì tôi không ưa ông nhà thơ nầy nên muốn phá chơi, vì trước đây vài năm, ông ta gặp ai cũng chào hỏi vui vẻ, còn rủ đi uống cà phê để tán phét, về sau, bỗng nhiên, ông ta rút vô nhà, gặp bạn bè, chào hỏi, ông ta chỉ gật đầu mà không thèm mở miệng, có lẽ ông ta thành nhà thơ, thuộc "cõi trên", không thèm giao tiếp với bọn tầm thường. Bây giờ, tôi xúi ra mắt thơ mà không ai đến để ông ta "quê", cho bỏ ghét. Hơn nữa, tôi tò mò muốn biết về bà chủ tiệm nail nầy. Yêu thương chồng, chiều chồng theo kiểu kỳ quái đó thì xưa nay hiếm thấy. Bà nào nghe chồng in thơ, ra mắt thơ là nhăn mặt rồi. Đã tốn kém còn phải mang về cả nghìn tập thơ, để chật nhà. Muốn gửi tặng bạn bè, phải moi óc, có được vài chục địa chỉ là quá nhiều, lại phải ký tên, ra bưu điện gửi, tốn kém, phiền phức vô cùng! Nhiều ông còn đi các tiểu bang khác, ra mắt thơ, các bà vợ rầu lắm mà không dám nói. Riêng bà vợ ông nhà thơ nầy thì lại hối hả, chạy ngược, chạy xuôi, gọi người nầy, người kia nhờ vả, năn nỉ, đốc thúc... Tôi được bà ta coi như quân sư, gì cũng hỏi ý kiến, tôi thấy tội nghiệp nên cố giúp. Vì biết kết quả sẽ không ra gì nên tôi giao hẹn trước "Tôi giúp ông bà hết mình rồi nhưng người ta có đến hay không, tôi không chịu trách nhiệm".

Hôm ra mắt thơ, vợ chồng tôi có đến phụ giúp việc chào đón quan khách, sắp xếp chỗ ngồi. Thật không ngờ, khách đến chật nhà hàng! Không biết ai xúi mà bà ta mời một cô ca sĩ nổi tiếng từ Cali. qua. Thế là cứ nghe báo chí, đài phát thanh quảng cáo có cô ca sĩ Ngọc Hạ hát là người ta ùn ùn kéo đến. Hơn nữa đã nghe hát "chùa" (miễn phí) lại được tác giả tặng không tập thơ với CD ca nhạc, lại có nước ngọt, bánh kẹo để nhâm nhi, được gặp bạn bè trò chuyện rôm rả (chả cần biết diễn giả đang nói gì!) Vợ chồng nhà thơ mặt mũi sáng rỡ, nhất là ông chồng, không còn là con gà rù nữa, lúc nào cũng tươi cười, ký tên tặng thơ không ngơi tay. Có điều lạ là, không biết từ đâu kéo đến một lô người đẹp. Tôi thật sự kinh ngạc, không ngờ thơ ông ta làm rung động quả tim của những cô trẻ đẹp đến như vậy! Các cô rất hấp dẫn, thơm tho, ngon lành. "Nói chung" là cô nào cũng nõn nà. Cô có cánh tay trắng nuốt thì mặc áo hở cả nách, cô có đùi thon dài thì mặc quần trên đầu gối hai gang tay, cô có ngực tròn, trắng, mịn như trứng gà bóc thì chỉ che ngực một phần tư thôi. Có cô, diện giống như nữ tài tử xi nê đến dự đại hội điện ảnh Oscar, phía sau, từ cổ đến dưới eo (lưng) để trống trải, thoáng mát, nên cô đi đâu thì đầu các ông quẹo theo hướng đó. Đã vậy các cô lại đi lung tung, gặp ông nào cũng chào, chào theo kiểu Nhật, nghĩa là cúi gập người xuống. Các ông thấy hết, mặt thộn ra, như bị bắt mất vía. Có lẽ xong buổi ra mắt thơ mà các cô chưa về, các ông cũng không chịu về. Tôi đâm ra ước được như ông nhà thơ, để trong mấy chục cô "hâm mộ thơ" đó làm gì cũng có vài cô sa vào vòng tay của tôi. Có điều lạ là bà vợ ông ta không tỏ ý khó chịu trước những lời ca tụng, tán tỉnh gần như tỏ tình của các cô (nõn nà) nầy với ông chồng (nhà thơ), mà còn về hùa theo rồi cười đùa vui vẻ nữa. Vì sao bà ta lại quá tử tế với chồng đến như vậy?

Buổi ra mắt thơ thành công ngoài mơ ước. Người điều khiển chương trình quả là chuyên nghiệp. Anh ta mở miệng là khán giả cười vui như xem hài kịch. Nhà phê bình văn học nghệ thuật thì đúng là danh bất hư truyền. Vì tôi mãi chiêm ngưỡng vẻ đẹp giai nhân nên đôi mắt và hồn vía tôi cứ bám sát theo các cô đang ỏng ẹo đi lòng vòng khắp nơi, nên không biết ông ta nói gì nhưng thỉnh thoảng nghe tiếng vỗ tay rào rào.

Sau hôm ra mắt thơ đó, tò mò, tôi đem thi phẩm "Thơ Xuân Tình" ra đọc. Không hiểu ông bà nào đánh máy, trình bày tập thơ cho ông ta, đã ghi một câu đáng kinh ngạc, ngay bìa trước tập thơ, dưới tấm hình tác giả rằng "Thi sĩ lãng mạn được mến mộ nhất hiện nay tại hải ngoại, người đã hi sinh cả đời mình để viết nên những trang sử thi đau thương…"

Tôi cũng mượn bài diễn văn của nhà phê bình văn học để nghiên cứu, hi vọng sẽ biết được giá trị của thi phẩm. Đọc suốt tập thơ và bài "phê bình văn học" tôi chỉ rút ra được một kết luận là nhà phê bình quả là đại tài. Tôi xin trích vài đoạn văn tiêu biểu sau đây: "Lãng mạn và đầy cá tính là yếu tố hấp dẫn trong thơ Xuân Tình. Đó là một thông điệp, chuyên chở bằng chữ nghĩa, gần như lạnh lùng, không cảm xúc về những vấn nạn của hiện thực đầy cảm tính, nhưng lóng lánh trong đó là những mảnh suy tưởng sắc sảo, những rung động ẩn mật của tình yêu. Tuyệt vời hơn nữa là với sự thông minh, dí dỏm, nhà thơ Xuân Tình đã lôi cuốn người thưởng ngoạn vào những tình huống bất ngờ, đầy hình ảnh và âm thanh của đam mê, buông thả và cộng hưởng" (?!). Trong một đoạn khác, ông ta viết "Từ vị trí một người thưởng ngoạn bình thường, tôi nghĩ, nhà thơ Xuân Tình có trong tay một cách thế thi ca để thể hiện sự hiện hữu của mình. Một nhà thơ phá cách, nhiều tìm tòi thử nghiệm, cách tân ở kỹ thuật, đậm tính thời cuộc ở nội dung. Thơ ông được giải thoát, được tự do, vượt trên mọi câu thúc xã hội, vượt qua cả hàng rào tín ngưỡng, đạo lý, vượt khỏi tâm lý rụt rè, khép kín để bay bổng về một thế giới mới, một linh hồn mới, một hơi thở mới. Từ đó, người ta thấy được cái phong phú của cuộc sống, cái sâu thẵm của tâm hồn và cái trớ trêu của định mệnh"

Tôi chịu thua, không hiểu gì về bài nhận định thơ theo lối tiền chế đó! Chỉ duy nhất một câu (không biết ông ta thuổng của ai) lộ rõ ý mỉa mai mà ít người để ý "Thơ rất lạ, một ưu điểm nhưng cũng là nhược điểm vì sẽ kén người thưởng thức" Tôi hỏi "nhà phê bình văn học" nghĩ thế nào mà viết toàn những câu ca tụng nghe rổn rảng như chuông mà chẳng thực tế, rõ ràng gì cả? Ông ta hỏi tôi "Ông có đi dự đám ma lần nào chưa? Có nghe người ta đọc điếu văn chưa? Tôi nhận định văn học trong những buổi ra mắt sách, ra mắt thơ cũng giống như người ta đọc điếu văn trong các đám ma vậy thôi. Chỉ ca tụng, suy tôn tác giả, tác phẩm chứ không phê bình, góp ý. Tác giả khoái chí, người nghe vui tai. Có hại cho ai đâu? Anh chê văn, thơ người ta vì văn, thơ của anh dở hơn của người ta. Nhà văn, nhà thơ thất bại thành nhà phê bình là vậy"

Còn về thi sĩ Xuân Tình, cá nhân tôi nhận xét thì, quả thực ông nhà thơ của chúng ta đã "bước lùi về quá khứ một bước và tiến tới hậu hiện đại ba bước". Nhiều bài thơ, tôi đoán, ông ta nhắm mắt viết bừa những câu bí hiểm điên khùng rồi ngắt ra từng đoạn, xuống giòng, thế là thành một bài thơ tự do, trừu tượng, siêu hình gì đó? Có những câu rất công thức như "Từ em về với người ta. Anh rời phố thị khóc tà huy xưa..." hoặc rất khó hiểu như "Em cổ tích ta vong thân mục tử, ôm mặt trời độc tấu khúc cuồng phong"...

Tôi biết, bạn nghĩ rằng tôi (nhà văn thất bại thành nhà phê bình) đang phịa ra một chuyện vừa dở vừa vô lý. Tôi còn điên đầu hơn nữa. Thế nên, nhân một hôm bà ta đến nhà để cám ơn sự giúp đỡ của vợ chồng tôi về buổi ra mắt thơ, tôi hỏi bà ta "Tôi có vài thắc mắc, nếu không tiện thì chị đừng trả lời. Như thế nầy. Tôi chưa thấy bà vợ nào hăng hái ủng hộ chồng in thơ, ra mắt thơ một cách tốn kém như chị. Ông xã chị ham vui thì chấp nhận được, nhưng chị lại sốt sắng hơn chồng nữa. Vậy là sao?" Bà ta ngồi yên một lúc rồi bỗng khóc òa. Vợ tôi hoảng kinh, ôm lấy bà ta, vỗ về "Có chuyện gì vậy? Chị không muốn nói thì thôi, đừng kể ra đây" Rồi làm bộ trách tôi "Anh sao tò mò chuyện người ta? Xin lỗi chị. Ông xã em vô ý quá!". Bà ta vừa khóc vừa lắc đầu, một lúc sau mới mếu máo nói "Chồng em bị ung thư sắp chết. Mổ rồi, chữa đủ cách rồi, nhưng bác sĩ bảo riêng với em là ảnh chịu đựng giỏi lắm là hai năm. Bởi vậy em phải làm sao cho ảnh vui trong những ngày cuối cùng khi vợ chồng còn bên nhau. Bán nhà em cũng làm. Cứ nghĩ đến mỗi ngày vợ chồng mỗi cách biệt, đêm nào em cũng khóc" Vợ chồng tôi vội xin lỗi "Ảnh bị bịnh mà tụi tôi không hề biết. Thật có lỗi quá!" Bà ta lại lắc đầu "Chồng em dặn trong nhà là không được nói cho người ngoài biết chuyện bịnh hoạn của ảnh. Ảnh không muốn ai hỏi han, thăm viếng, an ủi, thương hại" Trước đó, tôi nghĩ rằng bà ta là người điên, giờ đây, tôi lại thấy thật đáng kính phục, thương chồng quá sức! Bà ta nói tiếp "Em phải làm gấp, trước ngày đưa chồng em tái khám, vì sợ, bác sĩ mà tìm thấy di căn thì chẳng khác gì bị kêu án tử hình. Lúc đó vui thú gì mà ra mắt, ra mũi. Em sợ mất ăn mất ngủ mà ảnh thì vẫn bình thản làm thơ còn đồng ý cho em tổ chức ra mắt thơ nữa" Vừa thán phục bà vợ, bây giờ tôi lại kính nể ông chồng. Hiếm người thấy thần chết vác lưỡi hái đứng trước cửa mà vẫn làm thơ tỉnh bơ.

Sau ngày ông thi sĩ Xuân Tình tái khám, vợ chồng tôi không dám hỏi thăm sợ ông chồng giận vợ, đã dặn là không cho ai biết, sao có người gọi hỏi? Vậy mà một hôm, bà vợ điện thoại, mời chúng tôi đi nhà hàng, ăn mừng buổi ra mắt thơ thành công mỹ mãn.

Chiều thứ bảy, những người đã góp công, phụ giúp trong buổi ra mắt thơ, có cả mấy cô hấp dẫn đi nhởn nhơ bữa trước nữa, tổng cộng trên vài chục người, đến nhà hàng đông đủ. Bà vợ ông nhà thơ đứng lên nói mấy lời cám ơn, chờ mọi người vỗ tay xong, bà ta mới long trọng báo một tin vui "Hôm thứ hai, ông xã tôi đi tái khám, mấy ngày sau có kết quả từ bịnh viện cho biết, tình trạng rất khả quan, nghĩa là không thấy di căn hay bịnh lan qua các bộ phận khác" Mọi người nâng ly chúc mừng nhà thơ khỏi bịnh. Ông ta đứng lên tươi cười nói "Tôi bị ung thư bao tử đã lâu nhưng không cho ai biết. Bữa nay thì coi như khá hơn trước. Bác sĩ nói vậy thì biết vậy, dù sao đi nữa, tôi vui sống được đến ngày nay là nhờ vợ tôi". Đang ăn uống chuyện trò thì bà vợ ông nhà thơ có điện thoại. Bà ta nói lớn như muốn mọi người chú ý "Alô! Dạ đúng rồi ạ! Dạ, em có biết nhà sách Văn Chương của anh. Anh cần mang đến ngay hai mươi tập Thơ Xuân Tình? Thế hả? Một bà bên Pháp qua Mỹ thăm bà con, người ta nhờ mua đem về Pháp? Ôi. Thật hân hạnh cho vợ chồng em quá! Cám ơn anh nhiều lắm. Dạ, chủ nhật nầy em đem thơ đến, được không ạ? Dạ, cám ơn anh" Bà ta bỏ điện thoại vào xách tay, giọng bình thản "Sáng hôm qua, nhà sách Bình Minh cũng gọi bảo đem đến hai chục tập Thơ Xuân Tình. Một bà từ bên Úc qua Mỹ chơi mua một mớ. Thằng con chúng tôi đưa tập Thơ Xuân Tình của ba nó lên "nét" (internet), báo chí đem xuống in ra nên người ta biết và hỏi mua" Mọi người ngớ ra rồi lại vỗ tay chúc mừng. Ông chồng ngồi cười cười, nói mấy lời khiêm tốn, nhưng mặt cứ vếch lên trời, coi bộ thú vị lắm. Thật đáng kinh ngạc. Một nhà thơ vô danh, chỉ sau mấy bài thơ đưa lên "net", đăng báo và một buổi ra mắt thơ bỗng trở thành nhà thơ "kiệt xuất"! Hay là bà ta làm bộ như có người mua thơ để chúng tôi lác mắt chơi, và cũng để cho chồng vui chứ chẳng ai khùng điên đi mua loại thơ đó về Úc, về Pháp tặng bạn bè!

Mấy hôm sau, tôi đến nhà sách Văn Chương. Ông bà chủ nhà sách là chỗ quen biết. Tôi mua vài cuốn sách rồi làm như vô tình, hỏi chuyện về thơ, về phát hành, mua bán thơ. Ông chủ nhà sách dẫn tôi đến một góc kẹt, chỉ một dãy các tập thơ "Những nhà thơ nổi tiếng thì bán chạy lắm, còn những người khác gửi bán, tôi nể tình nhận, nhưng chẳng bao giờ bán được thơ. Thế nên, tôi dồn hết những "thi phẩm" của họ vào góc đó, gọi là Nghĩa Địa Thơ". Rồi ông ta tiếp "Có một chuyện lạ. Anh có biết nhà thơ Xuân Tình là ai không?" Tôi lắc đầu, vờ không biết "Tôi chỉ đọc báo và biết ông ta vừa ra mắt thơ tuần trước ở thành phố mình" "Tôi có đọc thử, thơ ông ta cũng nhì nhằng, tàm tạm, vậy mà có người mua cả chục tập, đem về Pháp, Úc tặng bạn bè. Sáng nay tôi vừa giao hai chục tập thơ cho một bà, bà ta còn đòi mua thêm mấy chục tập nữa" "Có thể mình không đủ trình độ thưởng thức thơ ông ta. Kiểu nầy ông ta dám lãnh một giải thưởng thơ quốc tế nào đó thì cũng không nên ngạc nhiên" "Đúng vậy. Ở đời có những bất ngờ mà chẳng ai lường trước được!"

Đọc đến đây, quí vị sẽ nghĩ "Đúng là một chuyện phịa có hậu nhưng vụng về và vô lý. Nhà thơ ra mắt thơ thành công, bịnh ung thư lành hẳn, vợ chồng hạnh phúc!"

Nhưng xin thưa quí vị, chuyện đời đâu có đơn giản quá như vậy? Phần sau đây mới làm người đọc bàng hoàng.

Nguyên nhân thế nầy. Bà vợ ông nhà thơ đang khỏe mạnh bỗng thấy đau đầu khủng khiếp. Đi bác sĩ rồi khẩn cấp đưa vô bịnh viện mổ ngay. Bà ta có khối u trong đầu. Bịnh viện thử máu, chụp hình rồi chụp thuốc mê để mổ. Mổ xong, bà ta đi luôn, không tỉnh dậy nữa. Mới tuần trước còn thấy bà ta chào hỏi, cười nói với mọi người, tuần sau, bà ta biến mất trên thế gian!

Sau khi chôn cất vợ, ông nhà thơ đem những tấm hình vợ rọi lớn lên, treo kín các vách tường trong nhà. Trong phòng ngủ thì một bức chân dung vợ lớn hơn nữa, che lấp cái màn hình TV, để khi vào giường, thay vì xem TV, ông ta nằm ngắm vợ. Suốt ngày ông nhà thơ chỉ quanh quẩn giữa bốn bức tường, để nhìn đâu cũng thấy vợ. Có thể nói ông ta điên vì thương nhớ vợ chứ không phải thất tình.

Một năm sau, nhân giỗ đầu của bà chủ tiệm nails, chúng tôi được mời đến dự. Ông chồng có vẻ tỉnh táo, bớt nhớ vợ. Khi về, tôi nói với vợ tôi những thắc mắc về buổi ra mắt thơ, về những tập thơ bán qua Châu Âu, châu Úc. Vợ tôi giải thích "Chị ấy bắt mấy cô thợ nail (thợ móng tay) trong tiệm diện vô, sao cho sexy, đi nhởn nhơ cho mấy ông vui, để khỏi chán, bỏ về sớm" Tôi kinh ngạc "Không ngờ bà ta khôn lanh quá cỡ. Bả làm cách nào mà bên Pháp, Úc cũng nghe danh ông ta mà tìm mua thơ?" Vợ tôi lại cười, chấp hai tay vái vái vào khoảng không như vái vong linh bà vợ ông nhà thơ rồi thì thầm, như sợ bà ta nghe được "Chị ấy dặn tụi em phải giữ thật bí mật. Chỉ nhờ tụi em, giả bộ như người từ Pháp, Úc, qua Mỹ tìm mua Thơ Xuân Tình. Cứ hỏi mua tối đa, mấy chục tập cũng được, chỉ trả lại tiền"

Bạn thấy, chuyện tôi kể chẳng hay ho gì, phải không? Không hay nhưng rất đẹp. Đó là tình yêu thương chồng của bà chủ tiệm Nails. Hiếm ông nào có được người vợ như thế.

PTC

Saturday, January 5, 2013


CÁI ROI MÂY

NGUYỄN THÚY ANH

 
 
"Sự nghiệp bắt đầu từ hôm nay"
Thầy thường biểu
Mà sao lúc ấy tụi con không chịu hiểu
Thầy ơi !

Con chập chững lần đầu tiên đường đời
Với cái đầu ngỗ nghịch
Sống với những điều mình thích
Để rồi một lần thầy rút cái roi mâỵ…

Con nhớ thầy, con nhớ bàn tay
Thầy đánh, con mới nhận ra: tay thầy yếu lắm
Trách nhiệm, tình yêu hằn thành gân tay chặt nắm
Thoảng thốt giật mình, những lằn roi trong vở của con...


Những lằn roi xưa ấy vẫn còn
Con ơn thầy bằng sự có mặt hôm nay,
ở giảng đường đại học.
Mỗi lần giở sách là một lần con biết khóc
Bởi ký ức nhớ về: Có một ngày,
thầy rút cái roi mâỵ…

Monday, December 31, 2012

21 năm nhìn lại để buồn


 thư viết từ đường heatherglen

phạm ngũ yên


1.

Trong giấc mơ màu buồn, chiếc lá mới chớm vàng ngoài sân vừa rụng xuống giữa cơn say. Em mang tình yêu của tôi đi qua những góc đường mưa bão. Tia nhìn lặng câm không thể làm hồi sinh một màu lá. Tôi đứng chôn chân nghe chiều khóc không thành lời.

Tôi chỉ là một người đàn ông vừa đi qua tuổi 60. Vừa ôm công việc trong tay vừa tập tành viết lách. Bỗng tiếng chân ai qua đời nghe dòn như tiếng lục lạc gieo xuống ngày bình an. Đến nổi mùa thu cũng giật mình. Tôi vừa biết làm một nhà văn không dễ dàng chút nào. Vì trái tim trót nghe quen những lời nũng nịu.

Có những người đàn bà đi qua đời một người đàn ông hồn nhiên như chim trong vườn. Vừa nhỏ bé mảnh mai nhưng sao đi nhanh như một tia nắng. Bỏ lại sau lưng quá khứ chật những gió mùa và tiếng bánh xe miết trên mặt đường vội vã.

Có những người đàn bà đi qua đời một người đàn ông lóng lánh mắt cười nhưng sao hồn mình nghe dao cứa? Vì những cánh buồm ra khơi nhưng vẫn làm nặng lòng những bến đợi. Mùa thu này tôi vừa viết xuống những lời thơ bao dung với người nhưng với đời thì tê điếng.

Ai đó, đã muốn tôi viết về những kỷ niệm của 21 năm cầm bút nơi xứ người. Coi như những hồi tưởng trùng điệp mà bất cứ người viết văn nào cũng đều cảm thấy hứng thú. Nhưng với tôi, không phải vậy. Tôi vừa chợt nhận ra tôi đã chọn lầm cái nghiệp. Tôi đã gõ lầm cánh cửa mở ra một khu vườn phủ che những điều dụ hoặc. Khi biết cây nhánh không còn xanh, cũng là lúc trái tim không còn thốt lên những lời kiêu hảnh.

Ngay chỗ tôi ngồi chiều nay, có vệt son nào vừa sót đọng trên miệng tách cà phê. Màu trắng của sành sứ và màu đỏ của son môi chập chờn như một cánh bướm bị thương tích. Lát nửa đây, tôi sẽ trở về căn phòng nhỏ của riêng tôi. Trên khung ảnh, chân dung ai vừa quay lưng như cánh chim vừa đão ngược vòng bay, nàng còn đó nhưng cũng vừa mất đó. Thành phố của em. Ngôi nhà của em. Nhưng trái tim em đã dành cho người khác. Thì tại sao tôi không thả nỗi buồn xuống gối chăn để quên mất đêm dài?

2.

Những nhà văn giống như những đạo diễn trên sân khấu đời. Họ hiểu từng hạnh phúc, từng khổ đau. Họ hiểu từng chặng đường nhấp nhô gai nhọn và hiểu luôn những bình nguyên. Họ để nhân vật thổn thức bất an trên những bối cảnh êm đềm hay để đôi tình nhân suông sẻ nắm tay qua những nghịch cảnh. Họ có quyền phóng tay viết nên những điều hư cấu phủ lên một xã hội thật. Có người còn ví von nhà văn là Thượng Đế.

Tôi không từng nắm bắt được kinh nghiệm đó. Tôi hiểu, nhà văn, là viết xuống dùm khổ đau và hạnh phúc của người khác, cho người khác.

Còn riêng khổ đau của chính mình thì sao?

21 năm sinh hoạt trong Văn Bút, tôi chưa từng biết hết những khúc nôi, những ngọn nguồn, như một chiếc lá bất ngờ rơi trên một suối đời nhân quả.

Những luồng xe vụt qua những ngã tư đèn, để lại những dòng người xuôi ngược.

21 năm theo đòi nghiệp viết, tôi vượt lên những u uẩn đèn vàng, nhưng không lách được những rào chắn phiền muộn. Có những điều phân vân sao cứ ủ chật trong lòng như màu mực đọng hoài trên trang giấy thơ dại?

 

Năm 1992, bài viết đầu tiên tôi viết xuống trong căn phòng chung cư mang tên một Thánh Nữ- Santa Maria. Mùa xuân vừa từ giả chúng tôi để nhường chỗ cho một mùa hè oi bức. Những cơn gió từ hoang mạc thổi về, vuốt ve trên mặt vách đá hai bên đường đi làm và ngọn đồi mang dấu chân của người da đỏ. Trước đó là thời điểm của tháng ba còn những đóa hoa Bluebonnets mọc dài trên xa lộ. Màu hoa gợi hứng cho một chuyện tình đồng thời khởi đầu cho một định mệnh. Truyện ngắn “HOA BLUEBONNETS CHO HAI NGƯỜI” tôi viết xong một tuần lễ trong đó có hai ngày cuối tuần ngoài quán cà phê Donkin Donnuts. Tôi hoàn chỉnh và đánh máy lại bằng chiếc máy đánh chữ xách tay mượn từ một người bạn tốt bụng. Đêm mênh mông những cánh gió bên kia cầu 183, những dòng chữ cũng mênh mông bày tỏ một hạnh phúc. Tôi không biết tôi có thể viết được nhiều hay ít sau này, nhưng tôi biết tôi không thể không viết vì đời sống này cho tôi nhiều thứ hơn tôi tưởng. Tôi viết, vừa để tiếp nối những mạch viết bị tắt nghẽn sau ngày 30 tháng tư, 1975. Và cũng vì một lý do khác.

Trong một vài số báo mà tôi tìm mua tại các chợ  Austin, tôi đọc thấy một Thông báo của Tổ chúc Văn Bút Nam Hoa Kỳ. Nội dung kêu gọi những cây viết tại phía Nam Hoa Kỳ và những vùng phụ cận gởi truyện ngắn dự thi nhân dịp kỷ niệm 30 tháng tư. Thời hạn nhận bài (tôi không nhớ rõ) nhưng hạn cuối là ngày 30 tháng tư năm 1992. Lúc tôi đọc thông báo và viết bài gởi đi thì thời gian chỉ còn hai tuần. Tôi gởi truyện ngắn “H B C H N” về cho Ban Tổ Chức. Sau một tuần, tôi gọi phone cho nhà văn Nguyễn Văn Sâm- vừa là Chủ Tịch VB,  vừa là một thành viên trong Ban Tuyển Chọn để hỏi xem bài đã đến chưa. Nhà văn Nguyễn Văn Sâm nói chưa nhận được bài- chắc bưu điện làm thất lạc- Ông khuyên tôi nên gởi hỏa tốc (over night). Vì thời gian hết hạn nhận bài chỉ còn vài ngày. Tôi vừa nguyền rũa Bưu điện, vừa bóp bụng tìm ra chỗ gởi Over night. Cước phí khoảng 10 dollar và mấy mươi xu- cho một cái thơ đi suốt đêm- Một số tiền không phải nhỏ đối với một người mới vừa định cư như tôi.

Đêm sau, tôi gọi cho nhà văn, và  được ông trả lời là bài của tôi đang nằm trên bàn viết.

3.

Cái định mệnh mà tôi nói ở trên, là Giải Truyện Ngắn Văn Bút Nam Hoa Kỳ năm 1992. Ngày tôi tháp tùng một người bạn (đang là Supervisor của tôi- tên là Michael Nguyen) về Houston nhận giải, tôi gặp nhà văn Nguyễn Văn Sâm lần đầu tiên. Nhà văn Xuân Vũ của Đường Đi Không Đến ngồi trên hàng ghế Chủ Tọa và bên cạnh là nhà văn, nhà báo Nguyển Đình Phùng, cùng một vài người khác, tôi không nhớ. Giải thưởng 500 dollars như thông báo, sụt xuống còn 300. Và những tin tức không vui nằm đàng sau hậu trường Văn Bút. Nghe nói hình như đang có sự rạn nứt nào đó trong nội bộ làm cho nguồn tài chính dùng để phát giải bị trở ngại giờ chót. Tôi nhìn quanh căn phòng dùng làm nơi phát giải. Chỉ có khoảng 20 người, tính vừa Ban Tổ Chức, vừa các tham dự viên gởi bài. Và thêm vài ca sĩ nhạc sĩ cây nhà lá vườn…

Tôi trở về Austin, buổi chiều nhá nhem và không bao lâu sẽ mịt mùng trên đoạn đường mang dáng vẻ mùa thu. Người bạn ngồi sau tay lái dù nói chuyện bên tai tôi, nhưng hình như không dấu được sự thất vọng muộn phiền. Còn tôi, số tiền 300 dollars trong phong bì, dù sao cũng làm tôi an lòng đôi chút, vì tôi biết nhờ vậy mà tôi có thể thu về những giá trị tinh thần khác, sau này. Cái giá trị mà vật chất không thể san sẻ được.

Con đường có lúc chìm trong hàng cây sồi đang oằn oại và ánh trăng mờ nhạt trên đầu. Dưới ánh sáng dù không chói lòa nhưng hào quang đã như một khúc tình đau rát mặt, có khả năng kéo tôi bay lên những nghịch cảnh hay vinh quang của đời thường. Trong đó thấp thoáng những thủy chung và bạc tình. Những sự thật trần truồng và lõa lồ cũng từ đó hiện ra

4.

Tôi thành danh và đứng vững trên đôi chân của mình, từ mùa thu 1992. Có cần để viết xuống hay không, khi ý nghĩa của hai chữ đó ẫn giấu đàng sau là một lời nguyền rũa?

Những dòng mực có miệt mài cùng tháng năm, như cơn mưa thấm sâu vào lòng đất. Những mầm hạt cuối đời tưởng trở thành bông hoa nhưng cuối cùng tản lạc trong mùa màng. Những trang văn hổn hển ước vọng không qua hết cuộc buồn vui. Những tình yêu óng chuốt một thời. Nơi có môi hôn cùng nước mắt lung linh màu đêm phơi phới. Tất cả lần lượt trở về, sau những bước chân kiếm tìm tuyệt vọng.

Có nghĩa gì đâu những giây phút phù hư nhưng kéo dài hơn hai mươi năm? Tôi ngồi đếm Thành Bại, Mất Còn.

Trong suốt thời gian sinh hoạt cùng Văn Bút, biết bao nhiêu bằng hữu đi qua đời nhau. Biết bao nhiêu vì sao băng qua một thiên hà khô lạnh. Từ cột mốc buổi chiều mùa thu cách đây 21 năm, tôi bước qua một chặng dài vụn vỡ những hào quang. Những dấu chân ướt mèm như dẫm lên cơn say tiền kiếp.

Nói sao cho đủ khi đêm dường như không thể hồi sinh thành sáng mai cũng như những ước mơ bị dán chặt xuống cuộc đời. Những người bạn, những tâm hồn thân quen đuổi theo nhau về đâu? Những nhân vật mang tình yêu trên vai và trái tim tràn đầy nhân ái?

Có những người bạn văn rất thân- cả nam lẫn nữ- đã quay lưng lại với tôi không cần lời thuyết minh. Có những điều nghịch lý đến nỗi trở thành không tưởng nhưng được họ dựng lên làm bảng chỉ đường cho đám đông xông lên và hành quyết. Họ quên rằng mới ngày hôm qua, hay mới đây thôi, họ đã nhấp môi cùng tôi những chén đắng chờ qua hết một thời nhiểu nhương.

Có những người bạn văn say đắm văn tôi và uống từng lời văn tôi như cửa sổ uống từng luồng gió đêm khoáng đạt. Nhưng bây giờ, họ xa lạ cùng tôi trong một thành phố tưởng chừng xa lạ không kém. Lý do rất mơ hồ.

Những đôi chân đang mõi vì đường dài, trong đó có tôi. Những ký ức không tên nay trở thành lời trăn trối. Rằng không có hạnh phúc hay khổ đau trong một khu vườn mà hoa hồng ít hơn gai nhọn.

Mùa thu sinh ra và sẽ chết đi. Dòng sông không bao giờ chảy ngược.

Đừng chờ đợi tôi viết về Văn Bút Nam Hoa Kỳ. Nơi tôi trưởng thành và già nua vì ảo tưởng một bến bờ hạnh phúc. Nơi tôi khát cháy một tình yêu đích thực giữa người và người. Chưa vội nói đến giữa những người cầm viết.

5.

Có những điều dù rất quen nhưng cuối cùng lại lạ lùng làm sao. Có những lúc tôi tưởng chừng chạm tay vào một cánh cửa đã khép.

Tôi yêu những đêm mưa về sáng thu mình đi qua những hành lang loang loáng ánh đèn để đến nhà nàng. Những cơn mưa quen thuộc và dấu ái như vậy sao hôm nay dội vào lòng tôi nhiều nhức nhối. Như tiếng lòng lặng thinh gõ nhịp lên quá khứ muộn phiền.

Tôi gối đầu lên những đợi chờ. Và mơ ước giản đơn một màu lá. Có những giọt mưa làm mát những thăng trầm đồng thời có những giọt mưa làm úng đất đai.

21 mùa thu đi qua tôi đứng trong mảnh vườn chữ nghĩa, nhưng chân dợm bước ra ngoài. Nhiều lần.

Tôi chỉ muốn những con chữ tôi viết xuống trở thành những cánh bướm bay lên làm đẹp cho đời. Không cần biết bão giông đang thổi tốc lòng người. Cánh bướm đã mỏng mà lời văn tôi còn mỏng hơn. Nên cuối cùng bất lực…

Tháng 10, 2012

PNY

Saturday, December 29, 2012


PHÍA CUỐI CHÂN TRỜi
Thụyvi

LỜI THƯA,
Bài này tôi viết vào năm 2000 và được đăng tại Hải ngoại với tên “ Phía Cuối Chân Trời”
Bất ngờ, mấy tuần nay trong nước vài Blogs Lề Trái đăng lại bài này với tựa “ Cớ Sao Phải Tiếc “
Nhận thấy bài rất hợp với hoàn cảnh những người trẻ trong nước đã vượt qua sự sợ hải để tranh đấu cho Nhân Quyền Tự Do…
Tác giả đăng lại bài này, mời quý vị cùng đọc…



1.
Bất ngờ Ca Dao báo tin nàng sẽ về Việt Nam trong vài ngày tới mà không nói rõ lý do khiến trong lòng tôi tuy có khấp khởi mừng thầm nhưng vẫn cứ thắc mắc tại sao nàng không nói đầy đủ ý nghĩa của sự trở về nhất là thời gian gần đây đối với tôi nàng tỏ vẻ thờ ơ tránh né đến độ khó hiểu bằng những đối thoại miễn cưỡng, khá nhạt nhẻo...
Tâm trạng đợi chờ của tôi trong trường hợp này không thoải mái chút nào, đây không hẳn là tâm trạng của sự náo nức đợi chờ trong thương yêu mà còn là tâm trạng của một người ngoi ngóp trong kiên nhẫn lẫn hồi hộp. Chẳng hạn như giờ này đây chung quanh tôi tràn đầy bóng tối nhưng tôi không thể nào ngủ, chỉ cố gắng nằm im trong cảm giác dằn co giữa thương yêu trông đợi về mối tình ghi dấu thật nhiều kỷ niệm nồng nàn của hai đứa cũng như vừa trộn lẫn một nỗi niềm chênh vênh trãi rộng như muốn nhận chìm tất cả những tiếng động dường như còn tiếc nuối vang vọng rời rạc ngoài kia.
Tôi quen Ca Dao tại nhà một người bạn và chú ý ngay đến cô bé có khuôn mặt tuy thật xinh xắn, nhưng dáng dấp thì rụt rè như con mèo khờ nhìn thật dễ thương nên sau đó tôi quyết đeo đuổi cho bằng được vì tin rằng đây chính là người con gái trong mơ của mình huống chi nàng còn khiến tôi sinh lòng hào hiệp vì cám cảnh trước một gia cảnh oái ăm như tiểu thuyết trong đó có người cha trầm lặng và đứa con gái không phải do ông sinh ra rồi tiếp theo định mệnh mở thêm một oan trái khác ngay thời gian ông quẩy túi nhẹ bổng đi trình diện tập trung cải tạo theo lịnh của nhà nước là lúc vợ ông chấp nối lại với người tình xưa - người đàn ông trở về hả hê sau đoàn người huyên náo trong những ngày biến động của đất nước. Người đàn ông hãnh tiến đó là một trong trong nhóm nhỏ sinh viên học sinh phơi phới năm nào - đã gây rối Sài Gòn một dạo, sau đó bỏ trốn, lên rừng rồi bặt tăm…bỏ lại người con gái là mẹ nàng với giọt máu vừa được tượng hình trong bụng.
Mười năm đằng đẳng. Cuối cùng, người tù được thả nhưng ông càng lặng thinh gần như vô cảm vì đã nghe về sự phản trắc của người vợ. Ông dường như sẵn sàng để chịu đựng thêm những điều bất ý không lối thoát...Hình như ông cũng chưa bao giờ nói về những chuyện riêng của gia đình bởi ông là người biết kềm chế để cân bằng sự sống... Không phải đến bây giờ ông mới ý thức những điều này đâu mà ngay từ đầu trong ký ức của ông đã trải qua những ngày tháng không bình yên về gia đình, sau này là một cuộc đổi đời...đây chính là chuỗi xích chắp nối một cách khắng khít những mảnh vỡ tan hoang trong lòng mà không có gì cứu vớt được nếu không nhờ đứa con gái bé bỏng đã can đảm chọn đứng về phía ông như một cách báo hiếu người cha đầy độ lượng.
Cùng chịu chung hoàn cảnh thay đổi một thể chế là chịu chung tất cả các thảm trạng khốc liệt, vì thế cha con nàng phải cố gắng lắm, phải dè dặt lắm, phải thu nhỏ đời sống giống như những người chung quanh co cụm lại cọ quậy một cách bất lực trong đáy lưới ngột ngạt, cùng chịu chung một tâm trạng bất an sống mà thấp thỏm đợi chờ vô số bất hạnh nào đó sẽ vô cớ chụp lên đầu vào bất cứ lúc nào.
Tôi xuất hiện đúng lúc như chàng hoàng tử đánh thức nàng công chúa khiến nàng choàng dậy như cánh lá non thở hơi hồn nhiên trong một mùa nắng ấm. Chúng tôi luôn luôn sóng đôi tưởng chừng sẽ kết cục bởi một lễ cưới, nhưng chương trình tỵ nạn bất ngờ mở ra một tương lai tốt đẹp đang vẫy gọi đón chờ. Chúng tôi đang yêu nhau và chưa bao giờ nghĩ tới chuyện chia lìa nhưng trong hoàn cảnh này những người tuổi trẻ như chúng tôi - những người thanh niên cùng thế hệ hiện tại giống như những con cá mắc kẹt trong vũng nước cạn làm sao tôi có thể là sợi dây buộc cánh chim trời đang có cơ hội thoát ra cánh cửa chật hẹp bay vút trong bầu trời lộng gió. Vì thế, ngày tiễn nhau, nước mắt nàng thấm ướt cả vùng ngực tôi. Trước khi chia tay, tôi cúi đầu chào từ giã người cha, ông mỉm cười với ánh mắt thật cương nghị nhưng tôi thấy loang loáng ánh lên chút lửa thật nồng.
2.

Tôi đứng chen lẫn trong đám đông ồn ào chật chội trong không khí nóng bức nơi cổng chờ của phi trường để đón Ca Dao và cứ bị đẩy qua đẩy lại mỗi lần có người bên trong đi ra khiến tôi nhiều lần phải kiễng chân, bị đẩy lùi vào một góc đứng căng mắt hồi hộp chờ đợi cho đến khi có tiếng ai đó kêu to " Ca Dao kìa" và trái tim tôi đập rộn ràng hơn khi thấy bóng dáng nàng xuất hiện đàng xa. Trong lúc tôi chưa kịp chồm ra mừng thì một người đàn ông lạ mập mạp chen ra ngoài chạy tới choàng vai tặng nàng bó bông hồng thật to vừa cười hớn hở trong ánh sáng đèn flash lấp loé liên tục. Sau vòng vây của gia đình Ca Dao đến bên tôi vẻ như mừng ngày tái ngộ nhưng không hiểu sao tôi lờ mờ nhận ra dường như điệu bộ nàng có chút gì không thật thà nên mặc dù tôi rất xúc động nhưng bằng một kềm giữ phi thường tôi đứng im cười bối rối.
Thấy cảnh trước mắt tôi cảm nhận ngay mọi chuyện đã tan vỡ, đã lỡ dở hoàn toàn nhưng vì cả nể tôi theo nàng về cùng chuyến xe, cho nên dù ngồi sát bên nhau tôi cũng không còn biết nói thêm với Ca Dao như thế nào ngoài những hỏi thăm lấy có. Tôi cảm thấy lạc lõng trong đám đông thân tộc bên ngoại của nàng, nhất là cảm thấy có gì ngăn cách với cô gái mà tôi từng yêu thương giờ lạ lẫm với mái tóc hoe vàng bung lên như kiểu thời trang của những cô ca sĩ trong những tụ điểm ca nhạc đang nở rộ ngoài kia.
Cuộc tái ngộ thật ngỡ ngàng. Sự xa lạ vẫn nguyên vẹn vì đáng lẽ chúng tôi có rất nhiều điều để kể lể về những lời nhớ thương nhau, nhưng trong suốt một buổi chiều, chúng tôi nói với nhau những điều vụn vặt, gượng gạo với những tiếng Việt rời rã mà nàng cố tình không muốn nói càng làm tôi vướng víu trong nỗi thất vọng vô bờ. Đúng là bây giờ nàng là một người khác và tôi không phải là tôi, do đó tôi thấy mình không cần phải chịu đựng với những cố gắng vô ích, tôi tìm điếu thuốc và bật lửa vừa lúc với tiếng nàng hốt hoảng kêu lên “ Oh ! No, no...”. Giọt nước đã tràn khỏi cái ly đầy ắp. Tôi nhìn nàng, muốn nói một câu, nhưng rồi chỉ mỉm cười với hai chữ xin lổi và dứt khoát đứng lên đi ra cửa với tiếng gọi tên tôi thật thảng thốt chạy đuổi từ ở phía sau lưng.
3.

Tôi đi lang thang một cách vô ý thức trong dòng xe cuống quít, đầu óc như rơi vào khoảng không mịt mù. Tôi cứ đi trong trạng thái mộng du như vậy mà không biết làm cách nào mà tôi có thể ghé được vào quán café cũ kỹ quen thuộc đầy kỷ niệm của tôi với nàng. Tôi ngồi chìm đắm trong lặng lẽ hồi lâu. Thật lâu. Khoảng không gian mát mắt với màu lá phủ xanh um, khiến lòng tôi bình tĩnh trở lại chút đỉnh nhưng lại khiến tôi rơi vào trạng thái buồn rười rượi khi nhớ lại chỗ ngồi này, những chiếc ghế này, những cái bàn này thảy thảy ghi dấu một thời hai đứa thương nhau, gắn bó nhau với từng hơi thơm quấn quít trên vai tôi cùng những lọn tóc mềm chảy dài trên triền lưng con gái.
Có lẽ bây giờ tâm hồn tôi đang lội sâu vào một thế giới đổ vỡ mà trước đây trong sự chừng mực của lòng tự trọng tôi đã mơ hồ khám phá ra những thay đổi của nàng đã manh nha từ mấy tháng nay nhưng tôi cứ mâu thuẫn để biện hộ cho hành động này. Bây giờ đối diện nhau tôi thấy không cần phải hỏi gì hết để khỏi phải nghe những giải thích quẩn quanh. Bây giờ chúng tôi đã đi hai con đường khác nhau, đã mất hút, đã lạc nhau mặc dầu tôi chưa kịp chuẩn bị gì để đón chờ tình huống này, nhưng trong cuộc tình, những cuộc tình đứng đắn không bao giờ người trong cuộc muốn điều này xãy ra, nếu có, có lẽ phía nào đó xem tình yêu chỉ là nhà ga tạm bợ hoặc xem tình yêu hôn phối chỉ là cuộc mua bán bằng những đồng đô la bóng bẩy.
Từ ngày còn nhỏ, anh em chúng tôi được cha mẹ dạy dỗ trở thành người cứng cỏi lương thiện để có thể tồn tại được trong bất cứ hoàn cảnh nào và biết phải đứng lên bảo vệ mình, cho nên dù cha tôi đã chết trong trại tù Hoàng Liên Sơn, dù tôi bị nhà cầm quyền phân biệt đối xử vì lý lịch "Con nguỵ" nhưng tôi mặc kệ cứ vác đơn đi thi hết lần này đến lần nọ với số điểm thật cao không ngờ. Cuối cùng … “Chuột chạy cùng sào”… mới vào Sư Phạm chăng? Hề gì đâu tôi muốn mình là người có công ăn việc làm tử tế.
Tôi trầm ngâm hồi lâu trước bóng đen dày đặt mà bùi ngùi khi mường tượng chúng tôi như những con chim ướt cánh, xụi bại, ngơ ngác nhìn vào khoảng không tối mịt không biết làm sao bay lên, làm sao thoát ra, làm sao kêu lên những tiếng kêu thống thiết để báo động cho thế giới bên ngoài biết đất nước này, đất nước do chính cha ông gầy dựng mà dân chúng cứ bị đày đoạ hết lần này tới lần khác khiến ai nấy cũng mang cùng cảm giác như người ở tạm trơ mắt bất lực nhìn xã hội suy đồi. Tôi không muốn bi thảm hóa nhưng trước những bất công, đàn áp đầy o ép...những người trong phía chúng tôi không khác gì dân Do Thái xưa bị Đức quốc xã gom lại, rọ lại, tuy họ chưa giết cấp tốc chúng tôi bằng hơi ngạt nhưng họ tàn ác không thua gì Hitler, họ khủng bố tinh thần chúng tôi thường xuyên bằng đủ mọi cách khiến chúng tôi sống như những thây ma dật dờ không còn hồn vía, thui chột hết tất cả niềm tin hoặc lý tưởng.
Trong khi tôi đang chờ chuyến đi xa, sắp lìa bỏ quê hương mà tâm trạng giống như người Do Thái năm nào náo nức được trở về đất hứa. Bỏ đất nước ra đi mà ai nấy cũng đều mang tâm trạng vui mừng nôn nóng bởi vì trong cái xã hội tồi tệ này tuổi trẻ chúng tôi làm gì có được tự do, làm gì có sự tự chọn mà lúc nào cũng bị bắt buộc phải theo một hướng nào đó, một đường nào đó đầy rẫy vô lý, chúng tôi phải tự mình quờ quạng trong bóng đêm để bảo vệ chính mình. Chúng tôi không được quyền thắp lên đốm lửa, chúng tôi không được chuyền ánh sáng soi rọi một thể chế đầy áp bức huống hoặc la to đòi hỏi nhân quyền này nọ .
Tôi ngồi thật lâu như thế rồi bừng tĩnh khỏi dòng suy nghĩ đầy buồn phiền, dụi điếu thuốc, để tiền dưới đáy ly rồi đứng lên lững thững đi lấy xe. Đêm tối, trời mát, những ngôi sao nhỏ xíu chấp chới trên cao, tôi thở hơi thật dài, lòng dịu lại và thầm thương Ca Dao, nàng có khác gì một số thân phận con gái tội nghiệp trên đất nước nghiệt ngã này. Tôi cũng chợt nhớ tới nụ cười thật tươi của mẹ nàng sáng nay, nụ cười của bà làm tôi rờn rợn.
Nàng tự đánh mất mình rồi, nàng không tiếc. Cớ sao tôi lại tiếc ?
4.

Tôi vội vã phóng xe về nhà, vì chợt nhớ đêm nay, như thường lệ, đứa cháu trai ở Mỹ gọi về tíu tít kể đủ thứ chuyện từ chuyện học, chuyện trong nhà, chuyện chơi banh, chuyện chơi ice- skate…tiếng Việt trơn tru líu lo như con chim đầy sức sống véo von vọng về từ phiá cuối chân trời.
thuỵvi

(Hầm Nắng năm 2000 )

Friday, December 28, 2012


CÓ TỘI HAY KHÔNG CÓ TỘI

LE HOA WILSON
 
 
"Hạnh phúc không phải là thứ có sẵn, Nó đến từ chính hành động của bạn.

Tín ngưỡng của tôi rất đơn giản. Tín ngưỡng của tôi là lòng tốt...."

Đức Đạt Lai Lạt Ma
 


Tôi thật không biết phải bắt đầu từ đâu để câu chuyện đời lộn xộn của mình có được một chút ngăn nắp để bạn hiểu tôi hơn. Thôi thì bắt đầu vào một ngày nắng đẹp, tôi bước ra khỏi toà án Saigon với cái giấy ly dị trên tay. Tôi có một trai và một gái, và quan toà đã rộng lượng xử cho tôi được trọn quyền giữ cả hai với điều kiện là không nhận được chu cấp từ người chồng. Tôi hoan hô quan toà cả hai tay. Đó là năm 1969.

Bà chị tôi có hãng thầu cung cấp dịch vụ hớt tóc, giặt quần áo, bán hàng kỷ niệm cho quân nhân Mỹ tại Việt Nam và hàng ngàn xe đá để hãng RMK làm phi trường. Đó là một công cuộc làm ăn lớn lao có tới vài trăm nhân viên nên chị nhận cho tôi theo làm để nuôi con. Do đó tôi gặp Ron, người chồng hiện tại.

Bạn ơi, không biết tôi đã tốn bao nhiêu nước mắt cho cuộc hôn nhân nầy. Không biết tôi đã nhận được bao nhiêu lời sỉ nhục khi đi sánh đôi với người chồng Mỹ tại Việt Nam. Nếu phải đếm hết những danh từ thô bỉ, những ánh mắt chê bai, những đối xử khinh bạc của bạn bè, của những người quen biết cho đến những kẻ qua đường vì tôi "lấy Mỹ" thì chắc tôi phải biến thành con rết khổng lồ với cả ngàn chân tay mới đếm hết nổi. Thôi thì chẳng qua là cái nghiệp. Chắc mình đã dè bỉu, chê bai bao nhiêu là người ở những kiếp trước nên kiếp nầy nhận lại "gậy ông đập lưng ông" thôi mà.

Mỗi lần bị "tai nạn" như vậy, tôi giả vờ phớt tỉnh. Những dòng nước mắt tủi hổ cứ chực tràn ra. Ông xã cứ hỏi là "họ nói gì vậy?", tôi thì cứ ai biết đâu, họ dùng danh từ em không hiểu!". Nhưng ông xã thì biết vì anh có rất nhiều nhân viên Việt Nam làm việc cho anh và chắc họ đã giải nghĩa cho anh hiểu địa vị của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội khi họ vô phước kết hôn với ngươì Mỹ.

Sau khi anh hiểu được, tôi không bao giờ quên được ánh mắt của anh nhìn tôi trong những lần "tai nạn" đó. Đôi mắt anh chứa đầy những biết ơn, những chia xẻ, những đau thương, những căm giận, những cảm thông... Anh cầm tay tôi nói: "Thật là không công bình cho em. Anh rất biết ơn em. Sự chịu đựng những nỗi nhục nhằn của em làm tan nát tim anh. Anh cảm thấy không xứng đáng với sự hy sinh của em." Tôi chỉ nói nhỏ: "Cả hai, em và họ đều là nạn nhân, mỗi người mỗi cách. Có phải chúng ta đã hứa là sẽ cùng chung chịu những niềm vui và nỗi khổ trên đời không? Vậy đó không phải là sự hy sinh. Đó chỉ là sự chia xẻ."

 

Và tôi đã sát cánh cùng anh nổi, chìm trong cõi ta bà, trong nụ cười khi gia đình xum họp, trong nuớc mắt khi một đứa con sớm vội ra đi, trong thành công, trong thất bại suốt bốn chục năm qua.

Rồi Trời Đất nổi cơn gió bụi. Năm 1975 tôi dắt díu các con qua Mỹ sống tại California. Bà mẹ chồng ở tận Boston qua CA thăm cháu nội và dâu lần đầu tiên.

Mẹ ruột kẹt lại quê nhà, mẹ chồng ở kề cận, thôi thì hãy vui với hiện tại và những gì mình có. Gạo trồng ở Việt Nam hay trồng ở Mỹ thì cũng nấu thành cơm. Mẹ ruột hay mẹ chồng thì người đàn bà đó cũng đã thương yêu và dưỡng nuôi người mình yêu dấu. Bà hỏi chớ các cháu đã được rửa tội chưa? Tôi nói ngắn gọn "Dạ chưa. Con đạo Phật." Bà mỉm cười không nói gì và không bao giờ nhắc lại.

Hình như người Mỹ có tâm hồn rộng rãi hơn. Bà thường hay lục lọi và gởi về cho cháu nội những quyển thánh kinh rất cũ của gia đình. Tôi nhận và trân trọng giao lại cho các con. Mẹ chồng gần với con dâu hơn người con ruột.

Thời gian qua, một hôm thằng con cả báo cho mẹ biết là nó muốn cưới vợ. Mình đã già rồi mà không hay bạn ơi. Khi nghe con trình bày mọi điều, bà chị la làng chói lói. Trời ơi, nó là con trai lớn nhất mà theo đạo Chúa thì lấy ai mà thờ phượng em? Bạn ơi, bạn nghĩ sao? To be or not to be? Nói Yes, con cứ tiếp tục lo hôn lễ hay nói No, No Way.

Hừm, thờ phượng là nó sẽ nhớ tới ngày mình theo Phật, mua một mâm đủ cả heo quay, gà vịt, có cả bia rượu, bưng lên bàn thờ để một tiếng đồng hồ rồi dọn xuống mời bạn nhậu? Hay là nó cúng mâm chay nhưng lại không ăn? Hay là nó tới chùa nhờ thầy đọc một thời kinh? Thầy lo đọc, nó lo nhớ tới cái đầu gối hơi đau vì quì lâu! Hay nó dọn một cái bàn thờ trong nhà, chưng cái hình mình lên. Có ai đó hỏi con nó trưng hình của ai vậy thì thằng cháu nội nhìn hình và nói "I don't know" !

Chỉ còn cách hỏi nó.

Cô đó hiền không? Dạ hiền. Cô đó giỏi không? Dạ giỏi. Cô đó thích săn sóc con cái, nhà cửa không? Dạ thích. Cô đó thương con không? Dạ thương. Vậy thì Yes, con ơi, Yes. Mẹ chỉ cần thấy con được hạnh phúc, an vui. Mẹ tin vào sự khôn ngoan và lựa chọn của con. (Cho con học bao lâu chắc con không ngu đâu, phải không?).
Vợ chồng con thương yêu nhau và tử tế với Mẹ khi Mẹ còn sống là con đã "thờ phượng" Mẹ rồi. Trong con đã có dòng máu của Mẹ. Con làm một người chồng tốt, một người cha tốt, một con người tốt là con thờ phượng Mẹ đó, phải không? Bạn ơi, bạn có thấy tôi quá "văn minh" không? Quá... quá... tiếng gì hả mà người Mỹ thường hay chỉ mấy ông nghị viên trong đảng dân chủ đó? À à, quá "liberal" không?

 

Vậy là tôi có hai thằng con theo đạo Chúa của vợ và năm đứa cháu nội biết Phật là Budha chớ chẳng biết Nam Mô. Quên cho bạn hay là tôi đã không rửa tội hoặc bắt các con theo đạo nào hết. Tôi để cho chúng tự do chọn lựa khi chúng đến tuổi trưởng thành (hoặc "được" vợ dẫn dắt). Tuy nhiên tôi cũng thường đem các con đi chùa khi chúng còn nhỏ và mỗi khi tết tôi đều dạy chúng lạy bàn thờ Phật và bàn thờ tổ tiên. Cho đến bây giờ vẫn vậy. Phải lạy bàn thờ. Đó là điều kiện duy nhứt tôi đòi hỏi gia đình các xuôi gia trong ngày cưới, dù họ là đạo nào. Tôi kính trọng tất cả các đấng dẫn dắt linh hồn.

Mỗi khi gia đình tụ họp tại nhà thằng con cả, nhằm ngày ăn chay, tôi luôn có ít nhứt một món chay rất ngon do con dâu Công giáo nấu. Tôi biết ơn chúa Jesus quá đỗi vì con dân của Ngài quả là một người đầu bếp giỏi và là một đứa con dâu rất hiếu thảo.

Thế là tôi trở thành minority, có nghĩa là thiểu số trong gia đình tôi. Ông xã, hai thằng con, hai cô dâu, năm đứa cháu nội, tất cả là mười người con Chúa. Một đứa con gái và chồng cùng ba đứa con tin tưởng cả Phật lẫn Chúa. Ngày lễ Giáng Sinh và cuối tuần thằng cháu ngoại mười hai tuổi đi đờn violin trong nhà thờ. Khi về nhà ngoại thì vô lạy Phật và... ngồi thiền!

 

Thằng con út thì, bạn có thể gọi nó là người vô tôn giáo, khuyên các cháu của nó không nên mỗi chút mỗi đổ thừa cho Chúa, và khi xưng tội thì phải nhớ chừa cái tội đó đừng lập lại và nhận xét rằng thuyết nhân quả của nhà Phật rất hay, nhưng đôi khi Phật tử lạm dụng thuyết nhân quả để chê đè người khác và vì thế làm cho người ta đau khổ. Bạn thấy nó đúng không? Nó mới hai mươi bảy tuổi và đôi khi nó nói chuyện đạo Phật làm tôi cũng ngẩn ngơ. Nó nghiên cứu đạo Phật bằng tiếng Mỹ. Tôi học Phật bằng tiếng Việt. Không biết có khác nhau nhiều không?

Nói cho bạn mừng dùm là dù thiểu số nhưng đạo Phật trong nhà tôi vẫn thịnh vượng. Tôi chưng bày tượng Phật tùm lum, trong vườn hoa đằng trước, trong sân đằng trước, trong vườn hoa đằng sau, trong sân đằng sau, ngay giữa vườn, trong luống hoa, giữa bụi lan... Bàn thờ Phật ở phòng khách, bàn thờ Phật trong phòng thờ, tượng Phật trên đàn dương cầm, tượng Phật trên đầu ti vi. Đây cũng là một tội ăn hiếp người (chồng) quá đáng, chắc kiếp sau lại phải trả thôi.

Rồi cách đây hai tháng, khi anh và tôi cùng ở tuổi bẩy mươi, phải bạn ơi cái tuổi 'thất thập cổ lai hi' đó, thì có một người quen từ Việt Nam qua chơi. Người nầy đã đi tu Chúa khi còn con gái mười bẩy tuổi và hiện nay năm mươi bẩy tuổi và đã được lên chức Mẹ Bề Trên. Trong khi trò chuyện, Sơ (xin tạm gọi như thế cho gọn) khám phá ra là chồng thì đạo Chúa chánh gốc (quên nói cho bạn biết là bố chồng mình gốc gác người Ý), đã được rửa tội, đã hưởng hết các phép ban ơn v.v... mà lại đi cưới một người vợ ngoại đạo, lại còn không bắt vợ theo đạo của mình. Thế thì khi chết sẽ không được vào nước Thiên Đàng, sẽ không được Chúa tha thứ, sẽ xuống địa ngục v.v... Và Sơ chỉ cho tôi nên đi kiếm Cha để xin Cha làm phép, xin Chúa tha tội cho ông xã để ông xã được trở về với Chúa.

Tôi hoảng hồn nghĩ mình thật là tội lỗi, bấy lâu nay chỉ lo cho linh hồn của mình, còn người bạn đời thì mình lại thờ ơ, may mà có Sơ nhắc nhở. Tôi bèn dịch lại những lời Sơ nói. Ông xã vẫn làm thinh (lại cho bạn biết anh là người ít nói nhất thế gian, bạn có biết tại sao không? Vì chị vợ đã nói hết thời gian rồi, anh chồng làm gì còn chỗ và thời gian để nói nữa, đã cưới nhau bốn mươi năm rồi, phải quen tánh quen nết chớ, phải không bạn?. À hình như anh có lầm thầm cái gì là anh chưa từng bao giờ bỏ Chúa thì tại sao phải trở lại? Tôi thì sợ hãi nên thúc giục anh mau đến tìm Cha.

Bạn có thấu hiểu được nỗi đau lòng của tôi không? Chắc là không. Vì để hiểu được bạn phải ở trong hoàn cảnh nầy và tôi thì không muốn cho bất cứ ai vướng vào cái vòng tục lụy nầy hết. Giống như cái ông gì đó (trí óc tôi lúc nầy chậm chạp quá, đã quên béng tên ổng) đang làm quan lớn với đầy đủ vợ đẹp, con khôn, quyền cao, chức trọng thì bỗng giựt mình tỉnh giấc Nam kha thấy mình vẫn đang ngồi dưới đất, vợ con không, lầu đài không, tiền bạc không, quan chức không.

Giống như bạn, tôi đã "cho anh cả cuộc đời", những tưởng mình đã cùng ai chung chịu nhục nhằn, hạnh phúc, đã cùng ai nở nụ cười, lau nước mắt, đã cùng ai ngẩng mặt, cúi đầu... Ngờ đâu bừng con mắt dậy thấy mình tay không! Mình đã đẩy người ta xuống địa ngục, mình là nguyên nhân để người ta xuống địa ngục. Bạn khuyên tôi phải làm sao? Người ta xuống địa ngục chưa thì tôi không biết, mà tôi thì đã ở trong đó rồi. Lòng tôi tan nát, bạn ơi. Tôi phải đọc tụng kinh gì hả bạn? Lương Hoàng Sám? Thủy Sám? Mà tụng thì ăn thua gì! Nếu tụng mà hết được tội đẩy người xuống địa ngục thì tôi nguyện đọc mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, từ đây cho đến hết cuộc đời.

Ngày hôm sau khi ngồi ăn cơm, dưới cái diã, tôi thấy một cái bao thơ, giống như cái card chúc tết hay chúc sinh nhật vậy. Tôi ngạc nhiên vì không phải tết, cũng chẳng là sinh nhật . Anh chẳng nói gì. Tôi mở card ra đọc những dòng chữ có thể dịch ra Việt ngữ như sau:

"Nếu phải xuống địa ngục và vĩnh viễn bị cấm cửa thiên đàng thì anh sẵn sàng và hạnh phúc chấp nhận. Ngày em nhận lời làm vợ anh là ngày Chúa đã ban ơn phước cho anh và chấp nhận anh vào cõi Thiên Đàng và anh đã ở Thiên Đàng từ dạo đó, nay sao lại còn phải xin xỏ để trở vào? Anh không ăn năn. Anh không ân hận. Anh không van xin. Anh chắc rằng Sơ đã không nhìn thấy những giọt nước mắt của em đã đổ ra cho anh, vì anh, vì hạnh phúc của anh, vì tội lỗi của anh. Nếu thấy thì anh lại tin chắc rằng Sơ sẽ bảo anh:

“Con hãy cám ơn Chúa đã cho con gặp người vợ ngoại đạo nầy'. Em hãy yên lòng, đừng thúc giục anh tìm Cha. Chúa rất nhân từ và thông cảm. Anh đang ở Thiên Đàng."

Đọc xong, tôi ngẩng lên nhìn anh. Tôi lại để cho nước mắt chảy ra thấm ướt tờ thư. Đã lâu rồi tôi không khóc. Lần nầy tôi không cố ngăn lại. Khóc được cứ khóc bạn ơi. Chỉ sợ rằng mình không khóc được và không được khóc!

Bạn có thấy dị không khi một bà già bẩy mươi tuổi còn khóc được vì một lá thư.. (có thể gọi là thư tình không bạn?). Không, đây không phải là thư Tình! Đây là thư Nghĩa! Tình yêu sôi nổi với dục vọng, với ghen tương, với giận hờn đã qua lâu rồi. Đây là sự thương yêu, nâng đỡ, dắt dìu nhau của hai con người đang đi vào đoạn cuối của cuộc đời mà không lãng quên những hứa hẹn ở buổi ban đầu. Đây là Nghĩa Vợ Chồng. Dù cho bạn có thành hôn với người Việt Nam, người Mỹ, người Trung Quốc, người Đại Hàn, người Pháp, người da đen, da trắng, da màu... thì nó vẫn tồn tại và rực rỡ trong tâm bạn.

Tôi hy vọng mãnh liệt rằng Chúa sẽ không bắt tội anh vì tôi tin rằng anh đã sống giống như ý Chúa: Thương Yêu, Trung Thành và Nhân Ái.

 

Đây là một phần câu chuyện đời lộn xộn của tôi và tôi xin chia xẻ cùng bạn với tất cả trái tim tôi. Có tội hay không có tội? Anh đã đi trật đường của Chúa dạy? Anh đang từ bỏ Thiên Đàng và trên đường xuống địa ngục? Anh thật không biết. Tôi là tên ác quỷ đang đẩy người vào chốn tối tăm? Tôi thật không biết. Chúng tôi chỉ biết cầu xin Chúa và Phật cho chúng tôi được có mặt bên nhau những khi hoạn nạn, được giúp đở nhau những lúc vấp ngã, được nấu cho nhau chén cháo trong lúc ốm đau, được nắm tay nhau mỉm cười khi mở cửa nhà đón đàn con cháu.

Bạn ơi, tôi không cần phải có bàn thờ và anh thì không cần phải kiếm Cha để rửa tội. Tôi vẫn là một Phật tử thuần thành và anh vẫn làm dấu thánh giá. Chúng tôi không quá "liberal" phải không bạn? Thiên Đàng và Niết Bàn của chúng tôi có nghĩa là " in the here, in the now" như Sư Ông N.H vẫn nói. Không biết chúng tôi có hiểu đúng ý của Sư Ông không?

Hai chúng tôi Tội Lỗi và Hạnh Phúc ngang nhau. Cả Phật và Chúa đều rất Bác Ái và Công Bằng. Bạn đồng ý hay không?





 

 

Wednesday, December 26, 2012




CUNG TRẦM KHI TÔI VỀ


PHẠM TƯƠNG NHƯ
















Tôi về em còn chờ tôi không?
Khung trời xưa vàng trưa mây hồng
Ngoài đồng mình cùng chơi diều giấy
Mười năm ai chờ người sang sông?
Tôi về trường nhìn quanh sân xưa
Ve râm ran lời ru dư thừa
Chim trên cành ca bài tạm biệt
Tình mười năm còn ai nghe mưa?
Tôi về phà qua sông lênh đênh
Người thân quen nhìn nhau như quên
Là đà chim bay tìm cố xứ
Dòng người trôi và tôi không tên !
Tôi về nghe đàn ai trong đêm
Cô đơn cùng vàng trăng bên thềm
Sương khuya và lòng tôi rơi rụng
Hoa cam trong vườn thơm hương em
Tôi về càng xa tôi tha hương
Trăm năm qua cơn mơ vô thường
Tình yêu, tim tôi là trái phá
Bùng lên ! Bùng lên điều buồn thương
PTN
Dec. 21 2012