Tuesday, April 9, 2013


GHEN TỴ VỚI LÁ CỜ NƯỚC MỸ

Trần Thanh Thủy


Đây là một tự sự đặc biệt gửi ra từ trong nước. Theo bài viết, tác giả lớn lên tại miền Bắc, sau 1975 mới theo cha hồi hương miền Nam, có hai bằng đại học, nói thông thạo tiếng Anh tiếng Nhật, từng là một “tour guide chuyên nghiệp”; đi nước ngoài như đi chợ, đi Mỹ thì thích lúc nào đi lúc đó… Và tâm sự: “Vậy mà tôi vẫn không có cảm giác tự hào về vị thế công dân của mình và đất nước mình.” Tự mô tả mình là “con cái của những người cộng sản” nhưng tác giả vẫn viết “chế độ độc đảng và tư tưỏng cộng sản đã làm cho dân mình không tiếp nhận được những giá trị chung của nhân loại về dân chủ, tự do, quyền con người… tạo nên một lực cản không đáng có cho đất nước.” Đề cập tới lá cờ của nước Mỹ, tác giả viết “Người ta yêu lá cờ là vì nó đại diện cho vô số điều tốt đẹp ẩn phía sau.” Và ngậm ngùi thấy mình là “Một công dân không có lá cờ tổ quốc!” Bài viết được phổ biến nguyên vẹn, không thêm bớt, cắt xén.

Tôi để tâm tới lá cờ nước Mỹ từ trước khi đến xứ này. Nguyên cớ cũng là từ tên con trai của tôi. Năm ngoái tên này 5 tuổi. Tôi nhớ là bữa đó tôi đang xem lại bộ phim”Sinh ngày 4 tháng 7″ trên kênh Star Movie thì hắn ta đi ngang qua và hỏi:

-Ba ơi ba! Lá cờ đó là cờ của nước nào vậy ba?

Lúc đó phim đang chiếu cảnh mấy người thanh niên đốt cờ Mỹ.

-Cờ đó là cờ nước Mỹ.

-Sao họ lại đốt cờ vậy ba?

-Tại vì họ muốn phản đối chính quyền.

Rồi hắn còn hỏi … và …. nữa nên tôi cũng giải thích cho hắn như thế và như thế…

Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên là tại sao một tên nhóc 5 tuổi lại thắc mắc về lá cờ của quốc gia hợp chủng xa xôi này nên tôi có hỏi hắn:

-Sao con lại hỏi về lá cờ này?

-Tại vì trong mấy phim con coi có mấy lần con thấy lá cờ này, mèo Tom cũng có lần mặc đồ cờ Mỹ này, mà mấy phim ba coi thỉnh thoảng con cũng có thấy vậy!

À ra vậy! Hèn chi…

Tên nhỏ này thì toàn coi phim hoạt hình, là mấy bộ phim mà Cartoon network ngày nào cũng chiếu, kiểu như “Tom and Jerry” hoặc “Teen Titan” mà mấy phim này có cờ Mỹ không tôi cũng không chắc! Hắn cũng coi phim thiếu nhi Walt Disney trên đĩa, rồi phim thiếu nhi trên kênh Star Movie và HBO. Thỉnh thoảng hắn cũng có coi mấy phim Việt Nam nhẹ nhàng như “Kính vạn hoa” hay ” Gọi giấc mơ về”…

Và từ đó tự nhiên tôi lại hay tò mò về lá cờ này khi xem những phim của Mỹ sản xuất. Thật bất ngờ đối với tôi và có thể với rất nhiều người khác! Trong tất cả những bộ phim này, lần nào lá cờ Mỹ cũng xuất hiện.Từ phim hành động tới phim hài, phim tình cảm rồi phim kinh dị, phim ma, phim viễn tưởng… Lá cờ Mỹ hiện hữu khắp nơi nơi! Từ cơ quan chính phủ, đồn cảnh sát, trường học đến trang trại, nhà riêng của người dân Mỹ, trên đồi cao hoặc trong vùng rừng núi, bên hông xe bus, trên nóc xe hơi cá nhân…Nơi này nơi kia, lúc này lúc khác tôi luôn luôn có thể nhìn thấy lá cờ này, lá cờ nước Mỹ! Tên nhóc nhà tôi cũng có ý nghĩ giống tôi, hắn nói với tôi như vầy:

-Ba, sao con coi phim Mỹ con thấy có nhiều cờ Mỹ mà phim Việt Nam mình ít thấy cờ Việt Nam hả ba?!…

Xin nhắc lại là tên nhóc nhà tôi năm ngoái mới chỉ có 5 tuổi! Thắc mắc của hắn thật ra cũng chưa chính xác , vì phim Việt Nam cũng có thấy cờ Việt Nam chứ không phải không có nhưng chỉ có điều là ít xuất hiện, hoặc thường xuất hiện trong mấy phim chiến tranh, tuyên truyền chính trị mà thôi.

Chưa hết, trong những chương trình thời sự trên tivi dù là kênh Việt nam hay nước ngoài, lá cờ Mỹ cũng xuất hiện với tần suất khá dày đặc.Cũng đúng thôi, Mỹ bây giờ là siêu cường, tin tức trên thế giới cứ 10 tin thì hết 3-4 tin là liên quan đến Mỹ! Quốc gia này mà hắt hơi, sổ mũi là cả thế giới rung rinh! Mà tin tức liên quan đến Mỹ thì đủ kiểu. Từ tin đưa về Nhà trắng và tổng thống Obama đến thị trường chứng khoán phố Wall, những quyết định của FED, rôbôt chinh phục sao Hỏa… Và nói đi cũng phải có nói lại: Chúng ta có thể dễ dàng thấy những cảnh người Mỹ “nhiệt tình” đốt cờ nước họ lắm! Có lẽ họ coi lá cờ giống như người yêu nên có lúc thương có lúc giận và lúc giận dữ họ cứ thẳng thắn biểu lộ cảm xúc đôi khi rất cực đoan!

 

Còn chuyện giữa tôi và tên nhóc nhà tôi, kể từ lần đó có một cuôc đua ngầm về việc ai là người thấy lá cờ này nhiều hơn trên màn hình! Thường thì lúc rảnh rỗi vào buổi tối hoặc những ngày cuối tuần, mấy ngưới trong nhà lâu lâu lại nghe một tên nhỏ và một tên lớn hồ hởi giành nhau về lá cờ:

-Ba ơi! Con thấy cờ Mỹ trước rồi nha!

Những lúc đó tôi thường làm bộ cay cú:

-Đâu phải cờ Mỹ, cờ nước khác mà!

-Cờ Mỹ mà ba, có sao và vạch tùm lum kìa!

-Ờ ờ! Đúng rồi! Tên này lợi hại ghê vậy ta…!?

Hoặc có lúc:

-Ê ê! Góc đường có một lá cờ Mỹ nha!

Thì hắn bao giờ cũng làm tài lanh:

-Con cũng thấy rồi!

Còn không thì là:

-Biết rồi!

Và tôi lại làm bộ cho hắn đi tàu bay giấy:

-Sao anh tinh mắt quá vậy anh?

Vậy là hắn có lý do để cười khanh khách khoái chí vì đã thắng được ba hắn!

Tất nhiên đây chỉ là chuyện đùa vui của hai cha con tôi.Nhưng nghiêm túc mà nói, thì rõ ràng, có nhiều điều rất đáng để suy nghĩ. Không nói trong các chương trình tin tức mà chỉ nói trong phim ảnh thôi thì cũng phải đặt câu hỏi là tại sao lá cờ Mỹ xuất hiện nhiều như vậy? Tại sao lá cờ Viêt nam không xuất hiện nhiều trong phim ảnh Việt nam? Phải chăng nhưng nhà làm phim Hollywood muốn thể hiện lòng yêu nước hay là thực tế cuộc sống của người Mỹ là như vậy? Và các nhà làm phim đã thể hiện phim như những gì cuộc sống hiện hữu? Mà nếu như thế thì người Mỹ họ yêu nươc dữ vậy sao?

Câu hỏi này của tôi đã được giải đáp trong những lần tôi đi tham quan, tìm hiểu nước Mỹ. Tôi đã đi qua gần 30 tiểu bang bằng đường bộ để cố ý quan sát kỹ càng nhiều mặt xứ sở Hợp chúng quốc.
Quả đúng là như vậy. Người Mỹ rất yêu nước!

Chẳng phải riêng gì trong việc treo cờ. Mà cả trong sinh hoạt thường ngày, trong những hoạt động nơi công cộng cũng như trong việc tổ chức xã hội của họ… Ta có thể thấy tình cảm của họ đối với quốc gia là rất đồng thuận và rất trân trọng. Về những lá cờ, đúng như trong phim ảnh, cờ Mỹ hiện diện khắp nơi nơi!

Đầu tiên là phi trường Los Angeles. Nơi nhà ga đến, những lá cờ to tổ chảng treo khắp trần nhà cùng những hàng chữ lớn “We are a face of country”- Chúng tôi là bộ mặt của quốc gia! Chẳng biết chúng tôi đây là ai? Nhân viên trong terminal thì nhiều lắm! Mà dẫu có là ai thì bộ mặt của quốc gia phải gắn liền với những lá cờ rồi! Khỏi thắc mắc!

Tiếp đó là đến những thành phố của tiểu bang Cali và những tiểu bang khác khắp nước Mỹ, đâu đâu tôi cũng thấy chúng, những lá cờ Mỹ. Từ San Francisco xuống San Jose, rồi San Diego ở CA, sau đó là hành trình băng ngang nước Mỹ theo đường interstate 40 qua miền sa mạc của AZ và NM, đến những thành phố nhỏ như Snyder ở TX, qua bờ đông nơi SC và NC, và ngược lên Washington DC và New York… phía Bắc. Vào những ngày đẹp trời thì ôi thôi mấy lá cờ này! Luôn tung bay giữa không trung đầy kiêu hãnh!

Ở những cơ quan công quyền thì không nói làm gì. Đằng này trong dân chúng lá cờ Hiệp chúng quốc cũng luôn phấp phới và được ngước nhìn. Tôi có thể thấy chúng được treo phía trước vườn hoặc trên mái của những ngôi nhà Mỹ trên mọi con đường, trong những lần dạo phố ở Little Saigon, Cali hoặc cả ở những nơi hẻo lánh như Tucumcari city New Mexico. Tôi cũng thấy chúng trong những lần ra biển hoặc leo đồi và cả những khi đi mua sắm ở các Mall, trong sân trước của những apartement, những condo, trên cửa kiếng xe hơi của dân Mỹ, trong khu vui chơi, resort, trong nghĩa trang… và cả trong nhà thờ! Phải,trong nhà thờ. Nói có sách mách có chứng, lần tôi đi lễ ở nhà thờ St. Barbara trên đường Euclid ở Santa Ana city tôi đã thấy lá cờ Mỹ được cắm trang trọng bên trái bục giảng đạo của cha Nguyễn Đăng Đệ. Điều này đối với tôi thật lạ lùng. Không biết ở các nhà thờ Mỹ khác như thế nào chứ ở Việt nam từ trước đến giờ tôi chưa từng thấy nhà thờ nào có treo cờ quốc gia bên trong cả!

Còn nói chuyện leo đồi, có lần tôi đã lên một ngọn đồi vô danh ở vùng thung lũng Pinole, phía bắc vùng vịnh San Francisco- Oakland. Bữa đó, tôi đến thăm một người bạn có tiệm Nails ở đây nhưng nhằm lúc tiệm đông khách quá nên không muốn làm rộn bạn, nhân thấy ngọn đồi gần đó phủ đầy hoa vàng đặc trưng của miền bắc Cali, vừa đẹp lại vừa dễ leo nên cũng tò mò thử lên ngắm hoa và vùng vịnh từ trên cao cho biết. Leo lên mất khoảng một tiếng đồng hồ, khi đến đỉnh tự nhiên thấy có cắm một lá cờ lớn trước mặt, trên cao gió lộng nên có thể nghe tiếng cờ quẫy gió phần phật. Cột cờ đã cũ nhưng lá cờ còn mới chứng tỏ được thay thường xuyên, vì dãi dầu sương gió trên cao nên không thể mới hoài được. Nhìn lá cờ cô độc trên đỉnh đồi không thể không thắc mắc ai có công vác lá cờ lên cắm trên này. Tiếng lá cờ reo cùng gió khiến cho bất kỳ ai leo đến đỉnh cũng cảm thấy đỡ mệt và phấn chấn trước quang cảnh vùng vịnh bao la. Xuống dưới tôi có hỏi bạn tôi về lá cờ thì bạn tôi cũng ngạc nhiên lắm, không ngờ trên đó có cắm lá cờ. Hắn ta cũng thật tình mà rằng:

-Tao cắm rễ ở thung lũng này đã lâu nhưng chưa bao giờ leo lên đồi đó, nên cũng chẳng giải đáp được thắc mắc của mày!

Mấy lá cờ Mỹ mà tôi từng thấy thì quả thật đẹp lắm, theo đúng nghĩa đen của từ này. Thường tôi thấy những lá cờ xứ khác được may bằng vải kate, nhưng cờ Mỹ thì đa phần được làm bằng cotton nên sao và vạch thường rất nổi bật, nhất là những lá cờ có chất liệu thêu. Mà thấy cờ size lớn nhiều lắm, nhất là ở những nơi công cộng toàn là mấy lá cờ to như cái nhà vậy. Còn cờ size nhỏ thường được để trên bàn hoặc cắm trên nóc xe hơi trong mấy ngày lễ, chắc có lẽ xứ sở giàu có nên không bao giờ phân vân về chuyện lớn nhỏ. Còn vật dụng để treo cờ cũng rất đa dạng và chắc chắn lắm chứ không “lả lơi” và tạm bợ như những lá cờ mà tôi từng thấy. Rõ ràng việc treo cờ là chuyện quốc gia đại sự!

Nhìn cách người Mỹ đối xử với lá cờ nước họ tôi hiểu rằng họ thực sự trân trọng lá cờ của họ. Nhưng điều gì khiến họ yêu lá cờ và yêu nước của họ đến vậy? Có phải do nó đẹp hay chăng? Lá cờ sao và vạch đó? Nếu trên lá cờ đó không phải là sao và vạch liệu họ có yêu nó hay không? Câu trả lời chắc vẫn là như thế, một tình yêu với lá cờ. Ai trong chúng ta cũng hiểu rằng sao và vạch chỉ là hình thức và mang tính biểu tượng.

Người ta yêu lá cờ là vì nó đại diện cho vô số điều tốt đẹp ẩn phía sau: Tự do, dân chủ, tam quyền phân lập, quyền lực thứ tư của báo chí…, cũng như sự đồng thuận của tất cả mọi công dân trong việc tạo nên một xã hội công bằng, văn minh, thịnh vượng và nhân bản. Một xã hội mà trong đó mỗi người đều có quyền lựa chọn cuộc sống cho riêng mình và có quyền thực hiện ước mơ của mình. Họ yêu thương trẻ em, tôn trong phụ nữ, nâng đỡ người tàn tật và chăm sóc người già (dẫu còn nhiều ý kiến khác nhau về việc này)…

Tôi đã rong ruổi trên nhiều nẻo đường của các tiểu bang nước Mỹ và tôi có thể thấy sự phát triển vượt bậc và khá đồng đều của đất nước này. Có những lúc tôi đã phải ngạc nhiên tự hỏi tại sao người Mỹ có thể tạo dựng được một quốc gia ngoại hạng như vậy. Cơ sở vật chất của họ đồ sộ và trải rộng khắp liên bang như vậy hẳn là đòi hỏi một sự tích tụ tư bản khổng lồ của nhiều thế hệ xuyên suốt thời gian mà bản thân tôi không thể nào tưởng tượng được. Nước Mỹ đích thực khác hẳn những gì báo chí trong nước hay viết và cũng khác với nước Mỹ tôi từng hình dung.

Tôi nhớ lần lang thang ở tiểu bang Utah, xe chạy 70-80 mile một giờ trên freeway interstate 80 mà chạy hoài cũng chưa qua khỏi những cánh đồng muối. Còn khi đi qua tiểu bang Kansas, freeway interstate 70 chạy giữa những cánh đồng lúa bạt ngàn đến cuối đường chân trời. Xe chạy từ sáng đến chiều mà vẫn thấy mênh mông nối tiếp mênh mông những sóng lúa như không bao giờ dứt. Đi vào làng của nông dân Hoa Kỳ thấy toàn là biệt thự rộng rãi, tiện nghi đầy đủ, sạch sẽ vô cùng. Cảnh trí được sắp đặt đẹp như tranh vẽ, cây cối hoa lá giống như một resort 5 sao của mấy khu du lịch. Ai cũng biết Hoa Kỳ được thiên nhiên ưu đãi rất nhiều, nhưng để biến đất đai tài nguyên thành của cải không thể thiếu bàn tay của con người và có cảm giác bàn tay lao động của người Mỹ hiện diện ở mọi miền, mọi vùng.

Tất nhiên Hoa Kỳ không phải là một quốc gia hoàn hảo, nhưng so với những quốc gia khác rõ ràng Hoa Kỳ đã vượt lên trước rất xa. Họ có những điều dở nhưng luôn luôn biết nhìn nhận thẳng thắn lỗi lầm và tìm cách khắc phục bằng những điều tốt hơn! Những người tốt luôn làm một điều gì đó để cái xấu không thể thắng thế và lẽ phải luôn được bảo vệ.

Quan sát xã hội Hoa Kỳ tôi thấy điều cốt lõi của xã hội này là mỗi công dân đều hiểu rõ giá trị của bản thân mình với các quyền đương nhiên của con người và hiểu biết rất cao về luật pháp để phân biệt rõ ràng những điều được phép và không được phép làm. Và chính quyền đảm bảo cho điều đó luôn được duy trì. Khi một xã hội đạt đến trình độ như vậy thì sự đồng thuận và sự minh triết sẽ xuất hiện và cùng với nó sự thịnh vượng sẽ đến với tất cả mọi người dân.

 

Người đọc có thể cho rằng tôi lý luận lẩn thẩn về một điều đương nhiên, nhưng bất cứ ai từng sống trong những chế độ độc tài đều rất dễ nhận thấy rằng để đạt được điều tưởng như đơn giản đó là cả một quá trình rất dài và gian khó. Mà nếu nói là trăm năm chưa đạt được cũng không phải là quá đáng! Ngay như trong khu vực Đông Nam Á, ai từng quan tâm tìm hiểu Thailand cũng đều phải công nhận Thailand đang phát triển trước Việt Nam khoảng 30 năm. Người Việt mình qua Thailand mà có dịp đi khắp nước họ sẽ thấy cuộc sống của người Thai khá thoải mái, cơ sở hạ tầng của họ dân mình thấy lần đầu quả thật sẽ ngạc nhiên vì không ngờ ở gần Việt Nam mà sao họ khá quá và hẳn ai cũng tự nhủ không biết bao giờ Việt Nam mình mới được như Thailand. Nhưng nếu thăm Thailand xong rồi qua Hoa Kỳ và nếu theo dõi tình hình xã hội Thailand trong thời gian qua thì thấy rõ ràng khoảng cách phát triển giữa Thailand và Hoa Kỳ vẫn xa thăm thẳm.

Cảm giác ghen tỵ với lá cờ nước Mỹ lần đầu xuất hiện trong tôi là khi tôi dừng chân ở thành phố Jackson của tiểu bang Mississippi, trên đường xuôi xuống New Orleans từ St.Louis city. Tôi nhớ bữa đó tôi đang ăn trưa trong một nhà hàng trên đường Wilson gần freeway interstate 55, trời mùa thu tháng 11 phương Nam, mưa rơi tầm tã, nhìn mưa nơi này không khỏi nhớ về những cơn mưa miền Trung ở Việt Nam, mưa không ngừng nghỉ với gió từng cơn và sấm chớp dọc ngang bầu trời. Trong lúc nhìn mưa mông lung bất giác tôi phát hiện phía bên kia đường có một lá cờ. Cột cờ nằm trước một center bán lốp xe hơi, với một lá cờ lớn. Dù mưa rơi tầm tã, bầu trời đen kịt, nhưng lá cờ vẫn ngạo nghễ tung bay. Đơn độc và bền bỉ, dường như nó muốn chống chọi cùng sấm chớp, quét sạch mây mù! Sự kiêu dũng của lá cờ khiến tôi không khỏi thầm khen “anh bạn khá lắm, thật là một tay can trường!”. Và cũng lúc đó tôi chợt cảm thấy buồn! Hôm đó đã gần đến đoạn cuối của hành trình, sau những ngày thăm thú nhiều tiểu bang tôi cảm nhận sâu sắc sự trân trọng lá cờ quốc gia của người Mỹ, dù thấy lá cờ rất là đẹp (theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng) và cảm mến lá cờ này nhưng rõ ràng nó không phải là lá cờ của tôi. Lá cờ sao và vạch đó, nó là của họ, những người dân quốc gia hợp chủng!

Tôi nhớ rất rõ cảm giác khó chịu len lỏi trong tôi lúc đó, một cảm giác thèm muốn mình cũng có một lá cờ để trân trọng và ngước nhìn, để có lúc tôi có thể đặt bàn tay lên con tim mình và cảm nhận tình yêu tổ quốc, tình yêu đồng bào của mình đang hiện hữu trong tôi! Điều đó tôi chưa bao giờ từng trải qua!

Nước tôi cũng có một lá cờ…

Và lá cờ tổ quốc của tôi, mỗi lần đến dịp lễ hoặc Tết là bác tổ trưởng dân phố lại đi từng nhà nhắc nhở (hay năn nỉ) người dân trong tổ treo cờ, bác này là cựu chiến binh, trong chiến tranh được phong anh hùng, giờ nghỉ hưu làm công tác dân phố. Mỗi lần gặp bác tôi hay trêu là nhờ chuyện treo cờ mà bác có cơ hội đi bộ thể dục! Thêm nữa tivi và báo đài cũng lại nhắc cho dân chúng biết về lịch treo cờ tổ quốc! Vậy đó mà có nhà họ cũng chẳng treo! Nhưng những ngày này thì công tâm mà nói cờ Việt Nam được mùa, phấp phới tung bay, nếu nói là “rợp trời cờ hoa” cũng không phải là quá đáng. Còn vào những ngày thường thì tuyệt nhiên không thấy dân chúng treo cờ, ngay cả cơ quan nhà nước cũng vậy! Sau lễ, Tết mấy lá cờ này như có chân vậy, chúng trốn mất tiêu, siêu tốc độ, chẳng còn mấy lá!

Tôi là dân có tập luyện, đại thể sáng nào cũng chạy khoảng 5-6 cây số, mà tính hay cầu toàn nên bữa nào có gió mạnh thường hay căn hướng gió để chạy. Nói ra có nhiều người ngạc nhiên! Tôi muốn tìm một cây cờ để xem hướng gió nhưng hiếm khi nào thấy. Nhiều lần chạy buổi sáng ở nhiều thành phố của Việt Nam mình mỗi khi đi công tác hoặc du lịch tình trạng cũng tương tự. Nếu đứng tại một điểm cao làm chuẩn mà lia tầm mắt trong vòng bán kính 5 cây số, 10 cây số, có lúc 20 cây số cũng không hề thấy lá cờ nào cả. May ra mà đứng gần ủy ban nhân dân thành phố hoặc phường xã thì mới thấy, mà lá cờ cũng “nhỏ như con thỏ” chứ ít thấy cờ lớn, có lẽ là được mua ở chợ chỉ chung một size! Không biết từ bao giờ người Việt mình thờ ơ với lá cờ như vậy?

Tôi nhớ lúc nhỏ sống ở miền Bắc, dù chưa đủ hiểu biết để suy nghĩ sâu xa về lá cờ, nhưng lá cờ đỏ sao vàng lúc đó cũng gần gũi với lũ trẻ bọn tôi lắm.Vì miền Bắc hồi đó nặng về tuyên truyền lên cờ hoa hay xuất hiện, thời bao cấp mỗi dịp lễ Tết dẫu có khó khăn nhưng tôi nhớ bọn tôi luôn được cho quà bánh. Mọi người được nghỉ ngơi nên ba tôi và mấy người bạn hay tụ tập khi nhà người này, khi nhà người kia ăn uống “cải thiện”. Lại nhớ có lần ba tôi chở tôi đi cùng một người bạn đi ăn liên hoan Quốc khánh, hai vị đạp xe chầm chậm nói chuyện, tôi ngồi phía sau mải mê nhìn mấy lá cờ đỏ treo hai bên đường thế nào mà rơi khỏi yên xe lúc nào không hay, còn hai vị cha chú cũng ham chuyện đến nỗi đi cả trăm mét mới phát hiện con cháu mất tích, hớt hải quay lại tìm “thằng nhóc suy dinh dưỡng”. Chuyện thật như bịa! Mấy chục năm sau gặp lại chú bạn vẫn nhắc:

- Mày hồi đó lỳ lắm con nhá, rơi xuống xe mà không hề khóc, vẫn lon ton chạy theo cho kịp tao với ba mày, mà cũng không thèm gọi bọn tao đâu nhá, rõ ông tướng chứ lị!

Sau này khi chiến tranh kết thúc gia đình tôi theo ba trở về quê hương miền Nam, tôi lớn lên, đi nhiều đọc nhiều biết nhiều, rồi lá cờ nhạt nhòa dần trong tôi hồi nào không hay. Dân chúng Việt Nam chắc cũng như vậy, chung suy nghĩ như tôi. Cuộc sống vất vả mưu sinh, thời gian trôi nhanh, chiến tranh đã qua hơn 30 năm rồi mà thực sự đất nước vẫn chưa có gì chuyển biến lớn lao cả. Xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì chưa thấy mà những cái xấu thì dường như ngày càng trầm trọng. Khi ẩn sau lá cờ không phải là những điều tốt đẹp thì màu đỏ và sao vàng sẽ thực sự chỉ còn là hình thức, những thành phần trong xã hội mà năm cánh sao vàng tượng trưng sẽ chẳng thấy mình trong đó và họ dần trở nên lãnh đạm với lá cờ cũng là điều dễ hiểu. Tôi cũng như họ, nhiều lần tôi nhìn lá cờ đỏ sao vàng đó và tôi không hề thấy tôi trong đó. Tôi không hề cảm nhận được đó là lá cờ tổ quốc của tôi! Trường hợp của tôi là con của những người cộng sản mà còn vậy, còn con em của những người ở “bên kia chiến tuyến” chắc là cực đoan hơn nữa.

Tôi là một tour guide chuyên nghiệp và đã đi khắp Việt nam, nhiều lúc khách nước ngoài họ hỏi mà không biết trả lời thế nào cho đỡ mất sĩ diện. Trẻ em bán vé số, kẹo cao su, hủ tiếu gõ… có mặt trên mọi ngả đường. Lên vùng Tây Bắc hoặc về miệt sông nước Cà Mau thấy trường lớp của con trẻ xập xệ, dột nát mà muốn rơi nước mắt. Trong khi ở các đô thị người ta mua xe triệu đô, xây các công trình thì cứ 10 tầng họ bỏ túi 1 tầng nên chất lượng chỉ còn 9 tầng! Phụ nữ bị bạo hành là chuyện nội bộ gia đình, khi nào sắp xảy ra án mạng chính quyền mới can thiệp. Có lần tôi thấy một người chồng đánh vợ bằng một chiếc ghế nhựa, cú phang lên đầu người vợ mạnh và tàn nhẫn đến nỗi chiếc ghế vỡ tan thành mấy mảnh, máu chảy tèm lem trên mặt cô.

Cũng có đông người nhưng không thấy ai ra tay nghĩa hiệp cả. Có chị phụ nữ xấn vào còn bị chồng lôi ra mắng:

-Xen vào làm gì! Vợ chồng mình có lúc còn quá nhà người ta!?

Tôi nhảy vào can thiệp thì tên chồng trừng mắt nạt:

-Tôi đánh vợ tôi thì liên quan gì đến ông!

Đánh hắn thì mình phạm luật mà không chừng lại bị hắn “tẩn” cho no đòn!? Bực quá móc điện thoại ra gọi cảnh sát 113 thì thất vọng vô cùng! Họ hỏi nhanh nhưng cặn kẽ sự việc, khi biết là chồng đánh vợ họ nói “chuyện này là xung đột gia đình, anh gọi qua bên phụ nữ nhờ họ giải quyết!”. Nghe họ nói tự nhiên bao nhiêu nhiệt huyết trong tôi tan như mây khói và cảm thấy bất lực, đơn độc biết bao nhiêu.

Quả thật hiện trạng xã hội khắp mọi miền đất nước rất đáng lo ngại, thành phố có nhiều nhân tài hội tụ nhưng toàn là “siêu sao kiếm tiền” chứ hiếm thấy người có tinh thần thiện nguyện, sẵn sàng cống hiến cho cộng đồng, “lĩnh ấn tiên phong” quyết liệt đấu tranh với cái xấu, định hướng cho đất nước đi lên. Mà dân nhập cư vào thành phố tự phát, tạo áp lực lớn lên toàn thể, những là kẹt xe, ngập nước, ô nhiễm… bây giờ là bài toán nan giải đối với cấp lãnh đạo các thành phố.

 

Chị của tôi đang tính mở tiệm thuốc tây, tôi nghe mấy chị bàn bạc mà đau hết cả ruột, “mở tiệm đừng ham chi mặt tiền đường lớn, cứ vào mấy khu lao động mà mở, mấy khu lao động bây giờ dân họ ưa bịnh lắm đảm bảo kinh doanh sẽ phát đạt”. Còn nông thôn bây giờ vấn đề con người rất đáng bàn, làm việc với cán bộ cấp huyện hoặc xã, sau bao nhiêu năm thấy vẫn dậm chân tại chỗ. Người giỏi thì bỏ xứ đi, người ở lại trình độ thấp mà không có tư tưởng cầu tiến, làm chưa được việc đã cầu lợi, báo đài vừa rồi đồng loạt đưa tin về mấy chuyện cán bộ các xã ăn chặn tiền hỗ trợ Tết cho dân nghèo, nghĩ mà xấu hổ cho “con rồng cháu tiên”. Còn nam thanh niên nông thôn khoảng 6 giờ chiều muốn gặp khó lòng thấy mặt, 8 giờ tối gặp tên nào nói chuyện cũng nghe mùi rượu bia. Hỏi ra mới hay nông thôn bây giờ chẳng có gì vui chơi giải trí, “bọn em thanh niên lao động chân tay, buổi tối làm mấy ly cũng đỡ nhức mỏi anh ạ!”.

Điều này chẳng riêng gì nông thôn, các đô thị loại 1, loại 2 bây giờ quán nhậu thì tràn lan mà thư viện, nhà văn hóa ngày càng xuống cấp, toàn xã hội đề cao “chủ nghĩa kim tiền”, đồng tiền lên ngôi trở thành thước đo mọi giá trị, mọi mặt của đời sống đều tụt hậu. Ngay như vợ tôi cũng là dân trí thức, yêu chồng thương con cũng thuộc loại “số một thế giới”, vậy mà thấy thiên hạ tiêu xài cũng phát hoảng. Có lần giận tôi nàng mắng là chồng gì mà toàn lo chuyện bao đồng, nhà người ta thì nhà lầu xe hơi, tiêu xài như nước mà nhà mình cứ bình bình hoài, làm mãi cũng chẳng thấy phát tài, tiêu pha thứ gì cũng phải cân nhắc! Mà thật ra gia đình tôi có thể được xếp vào dạng trung lưu, hai vợ chồng ba đứa con- một gái hai trai- ăn uống, chi tiêu cũng không đến nỗi thiếu thốn.Thêm nữa gia đình sum vầy hạnh phúc, không đau ốm, bệnh tật, cuộc sống bình an, nếu học theo Lão Tử kể như cũng là “bến bờ ngay sau lưng ” rồi! Vậy mà cũng có lúc cũng bị vợ nhằn, chẳng qua nàng thấy xã hội suy tôn đồng tiền quá đáng nên mất khôn chứ không thực nghĩ như vậy.

Thành phố Đà Nẵng là đô thị trực thuộc trung ương mà thư viện chẳng có bao nhiêu sách, tôi vào tham quan cho biết thấy chẳng được mấy cuốn có giá trị, sách truyện thì có mà toàn sách cũ, còn sách nghiên cứu thì thấy chẳng nhiều hơn tủù sách nhà tôi bao nhiêu! Mấy cô thủ thư nói giọng bất mãn:

- Lãnh đạo thành phố mê đá banh chứ đâu có mê sách mà anh bảo sao cho có nhiều hả anh?

Xuống Nhà văn hóa thanh niên ở 30 Bạch Đằng thì thấy mấy chục năm vẫn không thay đổi, có phần tệ hơn và thua xa thời năm 1986 khi bọn choai choai chúng tôi ghé thăm và nhảy đầm.

Sài Gòn cũng chẳng hơn gì, muốn đưa con trẻ đi chơi không phải là chuyện dễ dàng. Mấy điểm đu quay trong xóm thì rẻ nhưng chật chội và không an toàn, đi Đầm Sen một gia đình 2-3 đứa con chơi vài ba trò chơi cộng tiền vé vào cửa, ăn uống…tốn gần triệu như không! Đại thể là ngoài việc ăn uống mà muốn vui chơi, giải trí thì cứ phải có tiền mới dám chơi, chứ dân nghèo thì đành chịu vì nhà nước ít cho không cái gì cả. Mấy người đạp xích lô, xe thồ Sài Gòn có một thời hay lai rai loại nước giải khát lên men, chẳng biết được sản xuất bằng thứ gì mà chiều nào anh em ta cũng làm vài chai. Dân nghèo đâu có mồi xịn để lót bao tử, cứ sẵn gì nhậu nấy! Mười mấy hai mươi năm trôi qua, “phe ta” bây giờ đường ruột, dạ dày ai cũng hư hết. Đi bác sỹ khai ra mới biết cứ 10 người thì hết 9 người uống loại nước rẻ tiền đó. Mà nghĩ cũng tội nghiệp cho “ông” nhà nước, tiền thuế thu không được bao nhiêu thì lấy gì lo cho dân. Mấy anh thuế vụ ngoài chợ thu tiền của các cô, các chị bán rau thấy cũng tích cực lắm, nhưng môt sạp rau chẳng bao nhiêu tiền, thu không biết đến bao giờ mới bằng một chai rượu ngoại mấy tên “cá mập” uống trong vũ trường?

Còn nói về công viêc mưu sinh của người dân cũng trần ai, khổ ải. Mấy anh em lái xe tour du lịch tôi quen, dần dần chuyển nghề gần hết. Lâu lâu gặp lại cố nhân, nghe kể chuyện mà không biết nên vui hay nên buồn. Họ than công việc thì cực mà thu nhập không nhiều, chạy xe tour thì phải đi sớm về trễ, 7-8 giờ tối còn phải đưa khách đi ăn tối, về tới nhà bữa nào cũng 11giờ đêm, sáng ra 5 giờ phải lo dậy, chạy lên bãi xe xong đua xuống khách sạn ở trung tâm, vừa chạy vừa lo kẹt xe. Đi tham quan tuyến điểm thì lúc nào cũng như “bơi” giữa biển người, nóng nực, căng thẳng “không điên mới lạ!?”. Nghề nghiệp đặc thù, nếu tiền nhiều thì cũng ráng, chứ xương quá thì…Cuối cùng mạnh ai nấy “binh”, dù tiền ít nhưng tiện tặn cũng qua ngày mà có thời gian lo cho gia đình. Trò chuyện với anh em taxi cũng thấy buồn lòng, họ tâm sự:

-Bon chen kiếm sống, giành giật khách, giở mánh khóe này nọ, về nhà nhìn con cái ngây thơ vui học, nghĩ đến công việc mình làm cũng tự thấy mắc cỡ ghê lắm nhưng xã hội mình nó vậy, mình không làm người khác họ cũng làm, mà chậm chân thì vợ con mình đói, coi như đời mình kể như bỏ chỉ hy vọng mai sau các con mình…

Mà cũng hy vọng cầu may vậy thôi chứ không có cơ sở nào để tin đến đời con mình, cuộc sống sẽ khấm khá cả. Con cháu ra trường muốn có việc vẫn cứ phải “chạy”, mà lương cũng chỉ đủ tiêu thôi chứ không có dư, chuyện mua nhà, mua xe vẫn còn xa vời lắm. Báo chí Việt nam thì sau bao nhiêu năm vẫn ngoan ngoãn đi “lề bên phải”, cả một đất nước 80 triệu dân mà không có tờ báo nào “đáng mặt anh tài”. Có lần tôi đi Hongkong về, do bận rộn quá nên không đọc được thông tin trong nước, lên máy bay của Vietnam Airlines thấy có báo Thanh Niên thì mừng húm. Vậy mà đọc được vài trang là muốn bỏ xuống! Báo chí gì mà không đọc thì thấy thiếu thông tin, mà nếu cầm báo đọc thì lại chẳng có gì đáng đọc cả! Trước đây đã viết “dưới tầm” rồi, từ hồi mấy vị Tổng biên tập các báo bị cất chức, thấy còn tệ hơn, bài vở đọc giống như ăn cơm nguội vậy! Đất nước thiếu một môi trường tự do ngôn luận và một tầng lớp tinh hoa dẫn dắt xã hội, mà quy luật phát triển cho thấy trong một xã hội ai nấy bo bo ôm “nồi cơm” của mình thì tự do, dân chủ vẫn sẽ là chuyện của muôn năm!

Ở Việt Nam bây giờ nói chuyện chính trị và thời cuộc, mấy người thợ hớt tóc và xe ôm lại có vẻ là những người quan tâm hơn mấy vị quan lớn!? Ngồi chờ khách giở sách báo ra đọc họ bàn luận đủ thứ chuyện trên đời. Một anh xe ôm nói với tôi là anh ngồi ở mấy chỗ đèn xanh đèn đỏ mà anh thấy Sài Gòn 1 ngày lãng phí không biết bao nhiêu xăng dầu và siêu ô nhiễm. Vì dân số Sài Gòn đông mà thời gian chờ đèn lẹ quá nên ai cũng để nổ máy ngồi chờ, phải chi người ta điều chỉnh thời gian lâu hợp lý thì mọi người sẽ tắt máy, “tiết kiệm được bao nhiêu là xăng dầu chú nhỉ!”. Tôi động viên:

-Anh quan sát thực tế được bao nhiêu điều hay như vậy mà sao không viết thư góp ý với chính quyền?

Anh giãy nảy:

- Ôi dào! Bọn nó đời nào quan tâm đến thư của mình, có viết cũng như không thôi chú ạ!

Xã hội Việt Nam đang diễn ra như vậy, cuộc sống thì bát nháo, chính quyền thì luôn nói lời hay ý đẹp, dân chúng thì mất niềm tin nên lá cờ tổ quốc chẳng được mấy ai đoái hoài đến. Điều này thường xảy ra trong những chế độ độc đảng.

 

Sau mấy giải bóng đá quốc tế, chính quyền hay tuyên truyền về tình yêu lá cờ của người dân như minh chứng cho lòng yêu nước, báo đài thường nói là “80 triệu con tim đang hướng về đội tuyển Việt Nam” trước những trận cầu quan trọng hoặc nói “cờ Việt Nam tung bay trên mọi nẻo đường thể hiện tinh thần yêu nước cao độ của người dân” sau khi đội tuyển chiến thắng một đối thủ mạnh. Nhưng có lẽ họ cố ý nói sai hoặc làm như nhầm lẫn giữa lòng yêu nước và tinh thần hâm mộ thể thao. Ít nhất trong nhà tôi có hơn một nửa thành viên là không hướng về đội tuyển, vì ba má và vợ tôi không hề mê bóng đá, mọi người toàn coi phim bộ. Còn mấy tên nhỏ nhỏ trong nhà chẳng hề biết bóng đá là gì, nhất là mấy tên dưới 5-6 tuổi.

Cầm cờ ủng hộ đội tuyển Việt Nam cũng không có nghĩa là yêu nước. Chẳng qua ủng hộ màu cờ, sắc áo của đội tuyển nhà thì cầm cờ hoặc mặc áo của đội tuyển thì thích hợp hơn cả. Tôi đã chứng kiến trận cầu chung kết EURO 2008 giữa Tây ban nha và Đức cùng dân hâm mộ ở nhà thi đấu Phan Đình Phùng, Sài Gòn qua màn ảnh lớn. Dân hâm mộ chia thành 2 phe ủng hộ hai đội rất cuồng nhiệt, cũng cờ quạt, áo sống y như người Tây ban nha và Đức thứ thiệt. Khi Tây ban nha ghi bàn dân hâm mộ ủng hộ đội này cũng vẫy cờ Tây ban nha và hò hét vang trời, nhưng rõ ràng nhìn cảnh đó chẳng ai nói là người hâm mộ Việt Nam yêu nước Tây ban nha cả. Điều đó là rõ ràng!

Phần tôi mắc cái tội hay tò mò tìm hiểu, lại thêm số bay nhảy nên suốt ngày chu du xa nhà. Việt Nam thì không nói làm gì mà nước ngoài cũng đi tìm hiểu nhiều nơi, rồi quan sát, so sánh mới tự băn khoăn với mình. Điều tôi rút ra về sự chậm lụt của Việt Nam là chế độ độc đảng và tư tưỏng cộng sản đã làm cho dân mình không tiếp nhận được những giá trị chung của nhân loại về dân chủ, tự do, quyền con người… tạo nên một lực cản không đáng có cho đất nước. Bên cạnh đó nó cũng khiến cho chính quyền luôn tìm cách nói dối để mị dân cho dễ cai trị nên dân chúng càng ngày càng mất niềm tin. Tôi cảm thấy rất bất an khi nghĩ về vận mệnh của đất nước.

Với những gì đang diễn ra, tôi có cảm giác như cơ thể Việt Nam đang bị bệnh nặng, mà người bệnh vẫn tin hoặc giả bộ tin là cơ thể sẽ có khả năng tự điều chỉnh dần hết bệnh. Trong khi ai cũng biết là phải giải phẫu toàn thân may ra mới có thể cứu được bệnh nhân. Cả hai điều đều sẽ rất đau đớn, tuy nhiên lối thoát chỉ có một! Mà bệnh nhân không thể tự mình giải phẫu và phải cần sự trợ giúp của bác sỹ! Bác sỹ đó là ai? Có phải Hoa Kỳ hay chăng? Dù là ai thì cũng cần rất nhiều thời gian và tôi e rằng tôi không sống đủ thọ để thấy ngày đất nước tôi thay đổi và người dân sẽ có một cuộc sống hạnh phúc.

 

Như vậy cũng có nghĩa là tôi vẫn sẽ chẳng có lá cờ tổ quốc của mình để yêu mến và trân trọng. Tôi vẫn sẽ phải ghen tỵ với lá cờ nước Mỹ, ghen tỵ với sự trân trọng mà nó được dành tặng bởi những công dân của Hợp chúng quốc. Những người mà qua quan sát và trò chuyện với họ, tôi thấy họ chẳng hơn tôi bao nhiêu. Có khi còn thua tôi!?. Tôi là một người có sức khỏe, sống điều độ và lành mạnh, luôn yêu mến mọi người. Học thức thì hai bằng đại học, nói thông thạo 2 ngoại ngữ Anh, Nhật chưa kể miệt mài tự học từ hồi thanh niên đến giờ… Đi nước ngoài như đi chợ, đi Mỹ thì thích lúc nào đi lúc đó nếu không quá bận… Vậy mà tôi vẫn không có cảm giác tự hào về vị thế công dân của mình và đất nước mình. Dù đôi khi trong cuộc sống có những lúc bộc phát muốn làm người dấn thân, nhưng tuổi tác ngày càng thêm, gia đình đề huề, tôi nghĩ mình chắc sẽ vẫn mãi chỉ là một công dân bình thường và an phận.

Một công dân không có lá cờ tổ quốc! Và luôn chạnh lòng mỗi khi nhìn thấy lá cờ sao và vạch!

TTT

Friday, April 5, 2013



ĐÔI MẮT PHƯỢNG
NGUYỄN ĐẠT THỊNH


Tôi là một quân y sĩ ra trường năm 1974; đơn vị đầu tiên, cũng là đơn vị cuối cùng của tôi, là một tiểu đoàn Nhẩy Dù. (Xin bạn đọc cho phép tôi được bất chấp văn phạm, viết hoa hai chữ “Nhẩy Dù”, vì đó là những chữ tôi thương yêu nhất.)
Tôi lập gia đình năm 22 tuổi, ngày còn là một sinh viên quân y. Mẹ tôi bảo “chờ ra trường, có việc làm, có lương nuôi vợ, rồi hẵng cưới vợ.” Tôi biết mẹ tôi có lý, nhưng tình yêu cũng không vô lý. Tình yêu thúc dục tôi cưới Phượng ngay. Nàng quá đẹp; thằng Quỳnh, thằng Khương, thằng Ðịnh, những đứa bạn cùng lớp bảo tôi, “Phượng đẹp ngây ngất.”
Phượng là nữ sinh đệ nhất Trưng Vương; nàng cũng yêu tôi nhưng xin một năm đính hôn để học hết trung học. Tôi chờ; một năm dài được chia thành 52 tuần lễ ngắn hơn, đánh dấu bằng 52 ngày chủ nhật chúng tôi gặp nhau.
Không phải là một nhà văn, tôi không mô tả được nét đẹp của Phượng; tôi chỉ biết là Phượng rất đẹp, và nhất là có một sức hút dễ sợ; chỉ cần gặp Phượng một lần là không người đàn ông nào quên được nàng.
Xin đừng hiểu lầm Phượng là “típ” người nở nang, ăn mặc khêu gợi; sức hút của Phượng là sức hút ngầm do duyên dáng, do tình ý, chuyển đi từ đôi mắt. Ðôi mắt thật là tình. Mẹ tôi phán là đôi mắt lẳng lơ; tôi không thích hai chữ này vì nó làm mất đẹp cặp mắt trữ tình của Phượng.
Trước hôn nhân tôi mê mệt với đôi mắt ấy; sau hôn nhân tôi khổ sở, bực bội cũng vì đôi mắt ấy. Không một người đàn ông nào, dù chỉ gặp Phượng lần đầu, không có cảm tưởng đã yêu nàng và tình yêu của họ không bị nàng hất hủi. Ít nhất Phượng cũng không xua đuổi, không vô tình với họ. Tôi mất một số bè bạn cũng vì Phượng. Chỉ một vài lần gặp Phượng, chạm mắt với Phượng cũng đủ để họ thầm nghĩ là tôi đã mọc sừng.
Dĩ nhiên vợ tôi không thể có tình ý với tất cả mọi người, nhưng cái khổ là đôi mắt đắm đuối của Phượng không nhìn mọi người một cách thản nhiên như người ta nhìn những vật vô tri quanh mình.
Giờ này, vợ tôi không còn trên cõi đời trần tục nữa tôi mới thấm thiá hiểu được một việc rất giản dị, rất tầm thường là không tạo ra đôi mắt của chính mình, Phượng không có trách nhiệm gì về những đổ vỡ đôi mắt gây ra. Chỉ có tác giả đôi mắt đó ông Thợ Tạo mới đúng là người tôi phải oán trách.
Ði đôi với cặp mắt tình tứ là một đồng tiền rưỡi (một ở bên má trái, và một nửa ở cạnh môi dưới) trên khuôn mặt tươi như hoa, trắng mỏng manh. Cái đồng tiền rưỡi ấy, dù chỉ có đồng rưỡi nhung lai có ma lực giết người. Xin hiểu hai chữ “giết người” theo nghĩa trắng của nó.
Tôi hèn nhát? Có thể; nhưng tôi làm gì hơn được? Không chỉ yêu thương vợ, tôi vẫn còn say mê vợ tôi sau 3 năm chăn gối.
Mẹ tôi, chị tôi đề quyết vợ tôi đã cho tôi ăn bùa mê, thuốc lú. Tôi hiểu quan điểm những người thân của tôi; tôi hiểu cả định mệnh của tôi, của vợ tôi, và của cả những người say mê vợ tôi nữa.
Tôi vừa nói tôi hiểu định mệnh của vợ tôi. Ðiều đó cần được giải thích rõ hơn; đôi khi tôi nghĩ Phượng cũng đáng trách, nhưng trong đa số những đổ vỡ quanh nàng, Phượng chỉ thụ động, đáng thương. Phượng sợ và tránh né tất cả mọi gặp gỡ. Những buổi liên hoan của đơn vị tôi, những cuộc họp khóa, họp bạn của tôi, luôn luôn Phượng cáo bệnh hay tìm cớ bận con để không tham dự.
Sở dĩ tôi phải dài lời nói về vợ tôi như vậy, lả để người đọc hình dung được cái ray rứt, khổ sở của tôi trong 14 tháng tù khổ sai được cộng sản đánh bóng bằng hai chữ “cải tạo.”

Sau 3 ngày học tập binh sĩ đem loan truyền với chúng tôi cái tin tưởng học tập qua loa, ra về đúng kỳ hạn. Ðiều đó làm đa số sĩ quan cấp úy chúng tôi yên lòng khăn gói lên đường với 10 ngày tiền ăn. Nhiều anh lười, không đem theo cả mùng mền, tính ngủ nhờ với bạn bè cũng đủ qua khoảng thời gian 10 ngày ngắn ngủi.
Dĩ nhiên là chúng tôi đã lầm; chỉ ngay sau khi cái bẫy xập xuống đầu chúng tôi, cộng sản trắng trợn vứt bỏ mặt nạ “đại đoàn kết dân tộc, xóa bỏ hận thù.”
Bài học đầu tiên chúng tôi được nghe qua giọng nói hằn học căm hờn của một anh cán bộ quản giáo Bắc Việt. Anh ta oang oang bảo chúng tôi, “Các anh quên hết địa vị xã hội của các anh đi. Kể từ ngày hôm nay, vợ con các anh sẽ ngửa tay xin nhân dân từng hột cơm; và vài tháng sau vợ các anh chỉ còn nước đi làm đĩ để sống.”
Chúng tôi thắc mắc về thời gian 10 ngày, hắn cười khẩy, vẻ mặt câng câng, đểu cáng, “Các anh chỉ có 10 ngày ăn thôi ư? Ðừng lo, cứ ăn hết 10 ngày đó đi đã; sau đó ăn bám vào sức sản xuất của nhân dân.”
Trước mỗi cửa phòng giam, cộng sản cắc cớ bắt chúng tôi phải dán lên khẩu hiệu “không có gì quý bằng độc lập, tự do.” Cán bộ Việt Cộng còn phụ giải “người đi trên sa mạc thấy không có gì quý bằng nước uống. Các anh sẽ thấy đối với các anh thì không có gì quý bằng tự do.”
Ðề cao cái giá của tự do trong nhà giam quả là việc làm vừa châm biếm, vừa độc ác. Nhưng không phải chỉ trong nhà giam tôi mới thấm thía hiểu tự do là quý. Sau này ra khỏi trại cải tạo, sống trong cái nhà giam lớn hơn là nguyên cả Miền Nam Việt Nam tôi càng thấy rõ không phải chỉ một mình tôi, mà cả 20 triệu người dân Nam Việt đều đang khắc khoải giữa sa mạc thống trị, thèm khát ngụm nước tự do.
Xin trở lại với trại cải tạo và với vợ tôi; tôi bị giam 2 tháng hơn thì một buổi chiều nghe loa gọi lên văn phòng. Tôi tái người, nghĩ ngay đến những vụ thủ tiêu, biệt giam, thường xẩy ra đối với những thành phần cộng sản gọi là ngoan cố.
Bản chất hiền lành, tôi không ra mặt chống đối bọn giảng viên, quản ngục. Cái tội của tôi chỉ là không nuốt trôi được mớ lý thuyết rẻ tiền, lẩm cẩm của cộng sản. Nhưng đối với chúng, đó không phải là một khinh tội. Tôi lo lắng chờ đợi một hình thức trừng phạt vì trọng tội trí thức.
Lên đến văn phòng, tôi được một anh binh ba Bắc Việt, mặt non choẹt, đưa vào phòng chính ủy. Và tôi đã chết đứng khi thấy Phượng trong đó.
Giọng đầy cải lương, nhân vật số một của trại giam bảo tôi, “Xét thành tích học tập tốt của anh, nhân dân đặc biệt cho anh được nhận sự chăm nuôi của gia đình.”
Tôi học tập tốt? Thật là mai mỉa; những âm thanh giảng huấn chan chát của bọn cán bộ cộng sản đối với tôi không một mảy may khác những tiếng cuốc đất trong giờ lao động sản xuất. Tôi đoán hiểu cái lý do đã khiến “nhân dân đặc biệt cho phép” tôi được nhận sự thăm nuôi của gia đình.
Cặp mắt nẩy lửa vì giận, tôi nhìn Phượng. Vợ tôi đã đến cái nước đi làm đĩ như bọn cộng sản tiên đoán rồi ư? Phượng cũng nhìn tôi, đôi mắt vẫn tình tứ, nhưng buồn thăm thẳm và ướt đẫm. Những giọt lệ lăn dài trên đôi má nhung mịn màng làm lòng tôi se thắt. Tôi thèm bước tới, ôm Phượng vào vòng tay, và hôn dài trên đôi mắt đắm đuối ấy. Nhưng dĩ nhiên ngoại cảnh không cho phép tôi làm việc tôi thường làm đó.
Vợ tôi nghẹn ngào, “Bé Mai nhớ anh lắm.”
Bé Mai! Ðứa con gái 2 tuổi của tôi, báu vật của vợ chồng tôi! Tôi đứng khựng như trời trồng trước cái hình ảnh nhỏ bé, thương yêu mà vợ tôi vừa gợi ra.
Suốt 10 phút gặp gỡ, tôi không nói được một lời nào với Phượng cả. Cổ họng tôi nghẹn cứng; rồi bên tai tôi văng vẳng thật xa có tiếng nói của tên chính ủy: “Thôi, xách đồ ăn về phòng đi. Tuần sau lại được thăm nuôi nữa.”
Ðêm đó tôi không chợp mắt. Tôi hình dung những chuyện đã xẩy ra giữa vợ tôi và tên chính ủy cộng sản trước khi tôi được dẫn vào và sau khi tôi bị đưa ra khỏi văn phòng hắn. Tôi không tin đã có gì quá đáng trong phòng làm việc. Nhưng sau đó hắn có thể đến nhà tôi hay bảo vợ tôi đến một chỗ nào đó.
Tuần sau và những tuần kế tiếp, Phượng đều đều đến thăm tôi, mỗi lần đem theo một món ăn mà trước kia tôi ưa thích. Tôi nuốt những món khoái khẩu mà có cảm tưởng như mình đang ăn rơm khô, không mùi, không vị. Mỗi lần thăm viếng chúng tôi được nói chuyện với nhau 10 phút. Toàn những chuyện bâng quơ. Cả hai đứa chúng tôi đều không dám đả động tới điểm ngờ vực đau xót của tôi.
Có lần Phượng nói với tôi bằng cái giọng thiết tha nhưng nghiêm trọng, “Em chỉ xin mình tuyệt đối tin tưởng là em yêu mình. Suốt đời em, em chỉ yêu có một mình mình. Mặc dù những gì đã xẩy ra hay sẽ xẩy ra thì tình em yêu mình vẫn mãi mãi là sự thật duy nhất.”
Qua tâm linh, tôi biết Phượng nói thật. Tôi muốn quên những việc đáng buồn đã xẩy ra; quên không được, tôi cố gắng bào chữa cho Phượng. Nhưng ghen tương, ích kỷ, cũng không phải là những cảm nghĩ nhỏ trong lòng người chồng.
Những cuộc thăm viếng kéo dài được 4 tháng thì một hôm Phượng bảo tôi, “Tuần sau em về Long Xuyên với má; sống ở thành phố không có sinh kế gì hết.”
Tôi hăng hái khuyến khích vợ tôi xa lìa Saigon. Ít nhất về ruộng sống với mẹ Phượng cũng đỡ phải lo 2 bữa ăn hàng ngày, cái lo to lớn của người thị dân sau ngày bị giải phóng.
“Mỗi tuần được gặp em là niềm an ủi lớn cho anh,” tôi bảo vợ. “Nhưng cái nhìn ngờ vực, khó chịu của 2,000 anh em đồng đội, đồng cảnh trước việc anh được uu đãi làm anh khổ sở. Anh muốn chịu chung những đầy ải với họ.”

Tuần sau Phượng không đến thăm tôi nữa. Cuộc sống khổ sai không hạn định trở thành dài hơn vì thiếu sự chia cắt của những tiêu mốc ngắn hạn. Tôi trở lại vị trí của cái máy người, vô tri giác, không phản ứng, bảo đi thì đi, bảo học thì học, bảo lao động thì lao động. Những bạn nào đã sống trong trại cải tạo của Việt Cộng hẳn đồng ý với tôi là cộng sản đã thành công trong việc làm chúng tôi mất hết tri giác. Không vui, không buồn, không hy vọng, thất vọng, không mong chờ bất cứ một điều gì nữa. Cuộc sống hàng ngày như một bộ máy được điều động bằng những tiếng còi, những khẩu lệnh. Phần ăn quá đói làm tất cả chúng tôi tìm được cái khôn ngoan của loài vật: không làm một cử động thừa, không nói một câu thừa để không phí phạm bất cứ một phấn thật nhỏ nào cái sinh lực le lói còn trong xác người.
Chính trong trạng thái vật vờ của một xác chết chưa chôn ấy, tôi nhận được giấy phóng thích. Cầm tờ giấy chấm dứt cuộc sống tù ngục của mình trong tay, tôi dửng dưng như cầm một tờ truyền đơn học tập. Nói dửng dưng cũng vẫn chưa đúng; tôi không ý thức được những thay đổi tờ giấy mang lại cho tôi. Nhẩn nha nhơi từng hột bắp của bữa ăn trưa đói khổ tôi nghe cơ thể khoan khoái với chút bồi dưỡng ít oi. Trái bắp có trong tay vẫn quý hơn hai chữ “tự do” mới viết trên giấy.
Một cán bộ bảo tôi, “Chiều nay anh khỏi lao động; về sửa soạn nóp, chén trả lại nhà kho.”

Khỏi lao động, một tin mừng khác. Tôi trở về căn phòng giam hôi hám nhưng mát rượi như một thiên đàng so sánh với cái hỏa ngục lao động sản xuất mà các bạn tôi đang chịu đựng ngoài trời.
Bốn giờ chiều Phượng đón tôi ngoài cổng trại giam. Người vợ đài các của một bác sĩ mặc cái áo bà ba vải bông và cái quần đen, đứng vịn một chiếc xe đạp đàn ông cũ kỹ. Có thể tôi sẽ ít ngỡ ngàng hơn nếu từ trong thế giới tù ngục bước ra được gặp lại thế giới cũ của mình với xe honda, với áo dài. Tôi đang bước vào một thế giới hoàn toàn khác lạ sau chưa đầy 2 năm mất nước.
Thế giới bên ngoài nhà tù không phải ít khe khắt, ít đọa đầy; suốt một năm trời tôi phải sống trong chế độ “quản chế của nhân dân”; tôi xin giải thích những chữ văn hoa này. Chế độ “quản chế của nhân dân” có nghĩa là tôi phải làm mọi không công, phải sợ sệt tất cả mọi người. Bất cứ ai trong phường cũng có quyền phán xét là tôi chưa giác ngộ, cần học tập thêm, là tôi lại đi tù nữa.
Tôi cúi mặt trước tất cả mọi người, dù đó chỉ là một đứa con nít. Tôi vâng dạ, tôi tuân lệnh, không cần biết lệnh đến từ đâu. Một bà hàng xóm gọi tôi đến coi chứng bệnh cho thằng con tám tuổi. Sau khi quan sát kỹ mọi triệu chứng, tôi bảo bà là con bà bị thương hàn và không có cách nào hay hơn là đưa nó đi bệnh viện. Bà quắc mắt, “Anh vừa đi học tập ra mà con như vậy đó hả? Nhân dân có quá nhiều nhu cầu để bệnh viện thừa chỗ trống cho một đứa con nít nóng lạnh. Anh không biết cách nào khác nữa sao?”
Tôi đề nghị bà đừng cho con ăn gì hết để ruột không hư. Bà ta cáu kỉnh nạt, “Lang băm tư bản.”
Sau khi tôi về không hiểu bà có nghe lời tôi khuyến cáo không, nhưng rất may là đứa trẻ lành bệnh. Suốt nửa tháng trời tôi hồi hộp lo sợ: cái chết của đứa trẻ vì thiếu thuốc, thiếu chăm sóc có thể đưa tôi trở lại trại cải tạo như không.
Nguồn an ủi của tôi là số người thiếu ý thức như bà hàng xóm mà tôi vừa kể tương đối rất ít; đa số dân Saigon sống trong một tình đoàn kết ngấm ngầm nhưng khắng khít. Một bà cụ dúi cho tôi gói gạo nhỏ qua câu nói chí tình, “Bác sĩ phải ăn thêm mới sống nổi, tôi già rồi, thiếu thốn chút đỉnh cũng không đến nỗi nào.” Bà vợ của một công chức còn đang tù tội cho tôi đôi giầy. Ông hàng xóm sát vách cho cái áo.
Nhưng mọi nguồn vui của tôi đến từ Phượng thì nàng cũng là nguyên nhân của mọi buồn khổ. Phượng làm đĩ ra mặt, không còn e dè gì tôi nữa cả. Vợ tôi không chỉ tống tình cán bộ cộng sản để thăm nuôi tôi nữa, mà xuống đến tận chân thang của xã hội: mỗi ngày vài lần những anh phu xích lô đến gọi Phượng đi khách. Những lần đầu tiên Phượng còn ngượng với tôi, nhưng sau quen dần, nàng chỉ bảo tôi, “lát em về.”
Phần tôi, tôi vẫn phải tình nguyện xung phong trong mọi công tác nặng nhọc của phường như hốt rác, quét đường, trồng cây, thông cống ... Tôi xung phong để được chấm điểm, xung phong để khỏi trở lại lao tù cải tạo. Ðôi khi nghĩ quẩn tôi cho rằng đi tù mà còn tự do hơn chế độ nhân dân quản chế.
Thêm một lần nữa, tôi tuyên dương sự thành công của cộng sản. Chúng đã hoàn toàn đập tan uy thế của giới chỉ huy, giới trí thức miền Nam. Suốt một năm ra khỏi tù, tôi không được phép làm bất cứ một việc gì cả. Nói một cách khác, tôi phải ăn bám vào đồng tiền vợ tôi ngày ngày bán thân tạo ra. Sau 31 năm, nghĩ lại tôi vẫn rùng mình khiếp sợ.

Tôi xin độc giả ngưng đọc một phút để hình dung cái nhục nhã của tôi, của tất cả giới trí thức miền Nam. Tôi không đủ can đảm để nói bất cứ câu gì với vợ tôi về việc làm của nàng; cả hai chúng tôi cúi đầu chịu phép trước guồng máy xã hội mới.
Nếu một ngày tù dài bằng một ngàn năm sống tự do thì 365 ngày bị trói tay, thất nghiệp, sống đói khổ dưới quyền quản chế của nhân dân, và nhìn vợ đi làm đĩ chắc phải dài hơn sự hiện hữu của cả hệ thống vũ trụ.
Giữa hai vợ chồng tôi nẩy sinh ra một tình trạng ngượng ngập khó tả, Ít khi tôi dám nhìn thẳng vào mắt Phượng, và gần như không bao giờ tôi dám nói với nàng chuyện gì khác hơn là những câu đối thoại tầm thường quanh sinh hoạt nho nhỏ trong nhà.
Thỉnh thoảng bà mẹ vợ tôi lén lút đem được ít gạo, ít thịt lên cho chúng tôi. Qua những cuộc tiếp tế lậu này, tôi khám phá thêm được một bí mật: vợ tôi không hề về Long Xuyên với mẹ như nàng đã nói với tôi. Phượng đã làm gì, ở đâu, trong 7 tháng trời tôi nghĩ nàng về quê sống với mẹ? Cả đến câu hỏi này cũng chưa lần nào tôi dám hỏi Phượng. Tôi trốn chạy một sự thật phũ phàng nào nữa đó sẽ đến, nếu Phượng phải trả lời tôi.

Tối 30 tháng Chín 1978, sau khi theo một anh xích lô “đi khách” về, Phượng kéo tôi vào phòng trong cùng với bé Mai. Trên bộ ván thay cho cái giường nệm đã đi vào chợ trời từ hai năm trước, Phương mở gói thịt quay ra rồi bảo tôi, “Mình ăn với em.”
Từ sau ngày mất nước đây là lần đầu tiên tôi lại được nhìn thấy miếng thịt quay; Phượng lăng xăng bới cơm, và vợ chồng con cái chúng tôi ăn uống ngon lành như chưa bao giờ được ăn ngon đến như thế.
Những đó không phải là điều ngạc nhiên duy nhất của tôi; ăn uống xong, vợ tôi kéo từ trên đầu tủ xuống một gói giấy: bên trong là một bộ đồng phục thanh niên xung phong. Tay chân run rẩy, Phượng trải bộ quần áo lên mặt bộ ván, rồi giọng nói cũng run rẩy nàng bảo tôi, “8 giờ sáng mai, mình mặc đồng phục này đứng đón tàu ở bến Bạch Ðằng.”
“Ðón tầu? Ðể đi đâu?”
Không trả lời câu hỏi của tôi, vợ tôi chỉ lập cập nói, “Em đã đóng đủ 10 cây cho họ rồi.”
Mười cây vàng! Tôi choáng váng với con số lớn khiếp đảm đó.
“Vàng đâu mà em có đến 10 cây?” Câu hỏi buột miệng không nuốt trở vào được nữa, tôi chỉ còn biết nhìn vợ tôi, câu xin lỗi ngầm chứa trong ánh mắt. Phượng cũng nhìn tôi, đôi mắt thăm thẳm tình tứ trên khuôn mặt vẫn còn đẹp dù đã gầy đi và dạn dầy phong trần.
Sau một phút im lặng, nàng nghẹn ngào, “Em không biết mình có tin hay không, nhưng sự thật lúc nào em cũng yêu mình.”
Tôi ôm Phượng vào lòng; giữa một xã hội thù hận, cái bóng mát yêu thương nhỏ bé thật là vô giá. Mặc dù Phượng chưa nói, nhưng tôi cũng đoán hiểu mục đích vượt thoát của chuyến đi ngày mai, và hiểu 10 lượng vàng, giá của chuyến đi là kết quả của những canh dài Phương đem thể xác ra cho thiên hạ dầy vò để góp nhặt từng đồng hầu mua tự do cho tôi.
Cổ nghẹn lại, tôi không nói được một tiếng nào cả; tôi vừa sung sướng trước những bằng chứng hiển nhiên của một mối tình to lớn, bền chắc, vừa xấu hổ nhận những hy sinh nhục nhã của vợ.
Phượng bảo tôi, “Em chỉ đủ tiền đóng cho mình; nhưng em với con vẫn đi theo mình.” Nàng giải thích cho tôi hiểu chuyến tầu vượt thoát là tầu thầu việc chuyên chở thanh niên xung phong đi làm rừng ở cửa Cần Giờ. Sáng mai, tôi sẽ cùng với 30 người nữa đội lốt thanh niên xung phong xuống tầu tại bến Bạch Ðằng. Ðàn bà, trẻ con đi đường bộ xuống ngã ba Ðồng Chanh, chờ tại đó và sẽ đổ lên tầu. Họ là những người đi lậu, không đóng vàng.
“Người ta đi lậu nhiều lắm,” Phượng bảo tôi. “Em cũng trà trộn vào đám người đó; không lẽ người ta xô mình xuống sông. Sợ gì?”
Tôi sợ. Rùng mình tôi nghĩ đến cảnh “người ta xô vợ con tôi xuống sông”, nhưng có sợ tôi cũng không giải quyết được cái khó không tiền và đành theo mọi xếp đặt của Phượng.
Ðêm đó tôi trằn trọc không ngủ, Phượng cũng không ngủ. Vào khoảng gần sáng nàng hỏi tôi, “Mình đã đủ tin vào tình em yêu mình để tha thứ hết mọi việc cho em chưa?”
“Anh tin. Anh yêu mình.”
“Em còn một tội nữa, chưa thú nhận được với mình.”
Trong bóng đêm, tôi lặng thinh lo lắng. Ngần đó bất hạnh chồng chất vào một cuộc sống ngắn ngủi, cay cực, còn chưa đủ nữa hay sao.
Vợ tôi thở dài, “Lúc đó em còn khờ quá nên chuyện mới xẩy ra. Em phải nói dối mình là em về Long Xuyên với má. Thật ra em không muốn mình buồn.”
Dù vợ tôi chưa nói ra, nhưng tôi cũng đoán hiểu.
“Em có con?” tôi hỏi.
Rúc đầu vào ngực tôi, vợ tôi thút thít khóc, “Mình tha cho em.”
Ðứa con chỉ là hậu quả đương nhiên của những việc làm mà tôi đã nhìn vợ tôi hàng ngày đi theo những bác phu xích lô để làm. Bây giờ tôi lại hiểu mục đích cao cả của việc làm đê tiện đó. Tôi thương Phượng hơn là trách nàng.
“Ngày mai em muốn cho con cùng đi?”
“Nếu mình đồng ý.”
Dĩ nhiên tôi đồng ý; đồng ý đưa những người thân nhất đời mình vào chuyến đi địa ngục, vào vòng tay tử thần.
Trước 5 giờ sáng hôm sau, trong bộ đồng phục thanh niên xung phong, tôi chở Phượng và bé Mai trên chiếc xe đạp mà mấy tháng trước Phượng đã dùng để đón tôi ra khỏi trại tù cải tạo. Mặc dù giờ hẹn là 8 giờ, nhưng tôi vẫn đi sớm để hàng xóm đừng để ý đến bộ đồng phục của tôi. Hơn nữa, Phượng còn ghé Phú Nhuận, nơi nàng gởi nuôi thằng Vinh, đứa trẻ ra đời trong thời gian tôi ở tù.
Mọi việc xuôi lọt, và tương đối dễ dàng: 7 giờ sáng tôi đến điểm hẹn; nhiều người cũng mặc đồng phục như tôi đã có mặt; nhìn thái độ ngỡ ngàng, dè dặt của họ, tôi hiểu họ cũng như tôi, ngoài bộ áo thanh niên xung phong, chúng tôi không xung phong làm gì hết.
Phượng bảo tôi, “Mình chờ ở đây, em qua Tân Thuận đón đò máy.”
Nhìn vợ lưng đai một đứa con, chở đứa thứ nhì trên thanh ngang xe, ra sức đạp chiếc xe cót két, tôi nghe đứt ruột. Nửa tiếng đồng hồ sau tôi xuống tàu, chọn chỗ ngồi ngay bên hông, hy vọng giúp đỡ Phượng đưa con lên. Khoảng 8 giờ 45, tàu đến ngã ba sông Ðồng Chanh; bốn chiếc đuôi tôm xáp lại, đàn bà trẻ con ồn ào dành nhau leo lên. Tôi đỡ bé Mai trên tay Phượng, rồi kéo Phượng, tay còn bồng thằng Vinh lên theo. Cuộc đổ bộ của khoảng 70 đàn bà, trẻ con lên tàu không những đã công khai mà còn ồn ào, hỗn độn, tranh dành, la lối, đính chánh hùng hồn cái huyền thoại gán cho cộng sản một hệ thống an ninh bao trùm và hữu hiệu. Hàng chục khách thương hồ và ít nhất là 4 người tài công đuôi tôm đã chứng kiến và chắc chắn cũng đã biết mục đích của chuyến đi, nhưng cộng sản vẫn không bắt buộc được họ khai báo, phản phúc đồng bào ruột thịt.
Mười rưỡi, tàu ra đến cửa biển Cần Giờ, và trưa hôm đó quê hương thương yêu chỉ còn là một vệt dài dậm hơn mầu biển. Ðến lúc này các “giới chức” trên tàu mới hò hét chửi mắng những người vượt thoát lậu. Họ bảo chỉ dự trù lương thực và nước uống cho những người có ghi tên và có góp vàng. Những người khác sẽ không có khẩu phần.
Phần ăn và nhất là phần nước uống ít oi của tôi được chia làm 4; bao tử trống nhưng tâm tư vợ chồng chúng tôi tràn đầy hạnh phúc. Vợ tôi ngồi sát bên tôi, tay ẵm thằng Vinh, bé Mai nằm gọn trong lòng tôi; đầu vợ chồng tôi đội chung một cái áo, vừa làm nón cho người lớn, vừa làm mái nhà cho trẻ con.
Ngồi bó rọ trong cái cảnh mà nếu được nhìn thấy, chắc mọi người phải gọi là địa ngục trần gian, vợ chồng tôi bàn chuyện thiên đàng mộng tưởng. Cái thiên đàng của chúng tôi rất giản dị: bất cứ nơi nào cho tôi được đem sức đàn ông ra đi làm, làm bất cứ việc gì để nuôi vợ, nuôi con.
Tôi bảo Phượng, “Anh sẽ làm việc, làm ngày, làm đêm, để không bao giờ em và con còn phải thiếu thốn khốn khổ nữa.”
“Em thương mình,” Phượng thủ thỉ bên tai tôi. “Không bao giờ em còn làm mình buồn nữa.”
Tất cả những cam kết, hứa hẹn, dự tính đẹp như mộng ấy, chúng tôi đem ra làm thức ăn để đánh lừa cơn đói. Khẩu phần của tôi mỗi bữa khoảng 2 chén cơm chỉ vừa đủ cho 2 đưa nhỏ. Phượng và tôi nhắp một đầu đũa để cầm hơi.
Qua đến ngày thứ 3, vì đói quá, khi đi lãnh cơm tôi thò tay vào nồi, vừa bốc thêm một nắm cơm vừa nói, “Cho tôi xin thêm chút cơm.”
Một quả đấm bay vào mặt tôi; yếu đuối sau 14 tháng bị giam cầm đói khổ, yếu đuối sau 3 ngày thiếu cơm, thiếu nước, tôi té ngửa dưới sức mạnh của quả đấm trời giáng.
“ÐM quân ăn cướp. Ðã đi lậu mà còn đòi ăn nữa hả.”
Quả đấm tuy đau, nhưng tôi vẫn mừng vì cà mèn cơm chưa đổ. Bưng cà mèn đầy cơm hơn nhờ bốc thêm được một nắm về mái lều to bằng manh áo, tôi sung sướng nhìn Phượng được ăn thêm miếng cơm thứ nhì. Tôi an ủi vợ, “Mình đi được 3 ngày rồi, nhiều lắm 2 ngày nữa cũng phải đến Thái Lan hay Mã Lai.”
Héo hắt cười, Phượng nhìn tôi. Tôi muốn thuyết phục cho vợ yên lòng, nhưng chính giọng nói của tôi cũng không vững.
Mũi tàu vẫn hướng về phía Nam, điều làm tôi thắc mắc. Mặc dù không có cả đến một tấm địa đồ nhỏ trong tay, nhưng tôi vẫn mường tượng được vị trí của Thái Lan và Mã Lai so với Việt Nam. Tôi góp ý với những người điều khiển tàu là nên cho mũi tàu chếch thêm về hướng Tây Nam. Tôi chưa nói dứt lời, một ông vạm vỡ nạt ngang, “Anh biết gì mà nói.”
Ðến ngày thứ 5 của chuyến hải hành, vợ tôi lả đi vì đói, vì mệt và say sóng. Phượng dựa vào thành tàu, mắt nhắm nghiền, đầu gục xuống. Tôi van xin ông ngồi cạnh nửa thước khoảng trống để vợ tôi có thể ngả lưng trong thế nằm co quắp. Hai đứa bé không còn khóc được nữa; tiếng khóc của chúng trở thành những tiếng rên nho nhỏ.
Tôi mò xuống bếp tán tỉnh xin phụ việc. Khoản thù lao tôi mong mỏi chỉ là mỗi bữa một chén nước cơm cho trẻ con uống. Chúng không còn sức để nhai và nuốt vật cứng nữa. Một ông “giới chức” hất hàm hỏi tôi, “Trước kia anh làm nghề gì?”
Dĩ nhiên việc đi cải tạo không phải là một nghề, mà cũng không phải là việc đem ra khoe được, tôi đành khai, “Thưa ông, tôi làm bác sĩ.”
“Biết chích không?”
“Dạ biết.”
Thế là tôi biến thành thầy Hai chích dạo. Bà vợ ông giới chức bị bệnh đái đường; ông đem theo một xách thuốc cần thiết cho bà, nhưng thiếu thầy Hai chích. Ðường lên, bà nằm mê man từ 2 ngày nay. Tôi được đưa vào khoang để chích insuline cho bà. Bữa đó không những có được chén nước cơm, mà trong cà mèn còn thêm được một miếng thịt.
Ðược dinh dưỡng, vợ tôi và 2 đứa trẻ cũng tỉnh táo hơn. Chiều hôm đó tôi lại có thêm một thân chủ: gia đình một người Trung Hoa nhờ tôi chăm sóc cho đứa con bị cảm nắng. Họ tạ thầy một hộp Sumaco, khiến bữa ăn chiều của chúng tôi có thể nói là thịnh soạn.
Cà mên cơm đầy ăn với cá hộp giúp Phượng đủ sức ngồi dậy săn sóc con. Hai đứa trẻ vẫn đuối, nhưng nhờ được uống nước cơm nên không đến nỗi bị lả đi như hôm trước nữa.
Sáng hôm sau tôi trở lại chích thuốc cho bà giới chức; nhờ insuline làm tan đường, bà đã ngồi dậy được, tỉnh táo hơn. Uy tín lang băm của tôi gia tăng nhanh chóng, số thân chủ cũng gia tăng vì sau 5 ngày ngồi bó rọ phơi nắng, gần như tất cả mọi người đều cảm thấy mệt đuối, đau nhức, nhiều người sốt, cảm, và ho.
Nỗi khổ tâm của tôi là trị bệnh không dược liệu; đem kinh nghiệm 14 tháng giúp bạn tù trị bệnh bằng phương pháp kháng bệnh, tôi chỉ dẫn mọi người cách hô hấp, cánh tập trung tư tưởng để tự kỷ ám thị.
Nhờ hành nghề bác sĩ, khẩu phần của gia đình tôi trở nên sung túc hơn rất nhiều. Mỗi gia đình vượt biển đều có thủ theo một vài thứ thực phẩm khô, họ chia cho tôi một ít để thù lao bác sĩ.
Ðến ngày thứ 7, nhờ được ăn no hơn vợ tôi đã bình phục và hai đứa trẻ cũng tỉnh táo. Trưa hôm ấy chúng tôi gặp hoạn nạn: chiếc áo mái nhà của tôi bị gió biển cuốn đi, vợ tôi lục giỏ tìm cái áo khác ra căng lều. Lần này tôi có ý cột kỹ tay áo vào thành tầu.
Tối hôm đó, đang gục đầu trong thế ngủ ngồi tôi nghe như một biến chuyển lớn đang xẩy ra. Giật mình tôi thức dậy trong tiếng reo hò của mọi người.
“Tới rồi. Thấy đất rồi.”
“Cảm ơn trời phật. Chuyến đi quá dài nhưng rồi cũng đến.”
Giọng quát của một giới chức, “Ngồi cả xuống; chạy tới, chạy lui, mất thăng bằng lật tàu chết cả đám bây giờ.”
Mọi người ngoan ngoãn ngồi trở xuống, nhưng tiếng ồn ào vẫn không ngớt. Người ta bàn tán, “Chắc là Mã Lai.”
“Có lẽ như vậy, vì nó là hòn đảo, chứ Thái Lan thì đã thấy lục địa.
“Không chừng Nam Dương.”
“Rất có thể là Úc.”
Vợ tôi nắm tay tôi bóp mạnh. Tôi nghe như những mừng vui của Phượng đang được chuyền sang tâm hôn tôi mà không cần một lời nói. Mọi người mừng vì chuyến hải hành 8 ngày đã đến đích. Cuộc hành trình của riêng tôi và Phượng đã kéo dài gần 4 năm, mà mỗi ngày là một cơn ác mộng bất tận cho cả 2 chúng tôi cũng đang chấm dứt với chuyến đi này. Nỗi mừng của chúng tôi, vì vậy mà to lớn hơn tất cả. Chúng tôi mừng đến không nói được nên lời, không hò reo được như mọi người. Tôi ngồi yên, không buồn chồm lên nhìn hòn đảo mà tàu đang tiến vào nữa. Niềm vui của tôi đã quá đầy từ ngày bước chân xuống tàu rời bỏ quê hương địa ngục, trên những bằng chứng xác nhận tình yêu tuyệt vời của Phượng đối với tôi. Không một người bạn đồng thuyền nào thỏa mãn bằng tôi.
Ông bạn ngồi cạnh gợi chuyện, “Hình như hòn đảo nhỏ quá.”
“Vâng,” tôi lơ đãng đáp.
“Không chắc đã có người trên đảo.”
“Vâng.”
Mũi tàu vẫn hướng vào hòn đảo cô đơn trong khi niềm lạc quan trên tàu lắng xuống. Khoảng cách thu ngắn dần làm mọi người thấy rõ kích thước nhỏ bé của hải đảo. Nhưng giữa khoảng ngàn trùng của đại dương nhấp nhô hòn đảo kia vẫn là đất, vẫn bảo đảm vững vàng. Hơn nữa, nó cũng lớn tối thiểu bằng 20 lần con tàu dài 15 thước, rộng 3 thước với 140 người trong lòng tàu.
Ða số góp ý kiến nên ngừng lại đảo.
“Biết đâu bờ bên kia lại không có một làng chài lưới.”
“Ghé nghỉ ngơi một ngày, đi lại cho dãn gân; ngồi bó gối mãi, mỏi quá.”
“Có thể tìm nước ngọt, đánh cá tăng thêm thực phẩm trước khi tiếp tục đi nữa.”

Cuối cùng, những giới chức trên tầu quyết định cho tầu chạy một vòng quanh đảo để quan sát trước. Và đó là quyết định cuối cùng của họ với tư cách chỉ huy chiếc tiểu hạm tử thần: mới chạy được nửa vòng đảo, tàu chạm đá ngầm, vỡ đáy, lật nghiêng qua 30 độ.
Phượng văng từ thành tàu bên này sang thành tàu bên kia, thằng Vinh tuột tay mẹ, rơi thẳng xuống biển. Trên đà nghiêng của con tàu, tôi phóng nhanh đến bên Phượng, trao vội bé Mai cho nàng và nhẩy xuống biển để chỉ vừa kịp nắm tay đứa bé chưa đầy năm, theo nó ngụp vào một đợt sóng lớn. Sóng đưa tôi và thằng Vinh vào gần bờ, và do đó tôi trở thành người đầu tiên đặt chân lên hòn đảo san hô thê lương, sau này biến thành nơi gởi xác của nhiều người trong chúng tôi.
Việc làm đầu tiên của tôi là bồng thằng Vinh đưa lên cao để vợ tôi nhìn thấy mà yên lòng. Cách bờ khoảng 15 thước, mọi người nhốn nháo; tiếng kêu khóc thật là thê thảm, nhiều người nhẩy xuống nước chạy vào bờ.
Sau khi bị vỡ đáy, con tàu mắc cạn đang từ từ trở lại thế thăng bằng, mặc dù vẫn còn hơi nghiêng, nhưng người trên tàu không đến nỗi phải bám cứng vào thành tàu để khỏi rơi xuống biển nữa.
Nhờ người coi chừng thằng Vinh, tôi lội xuống nước trở ra mạn tàu bồng bé Mai, và xách gói hành lý khiêm tốn của chúng tôi, rồi dắt Phượng lên đảo. Nhiều người khác cũng làm như chúng tôi; họ lìa bỏ con tàu mà không cần biết là đi đâu, nhắm mắt đưa chân, như 8 ngày trước rời bỏ quê hương Việt Nam.
Ðó là sai lầm của chúng tôi. Hòn đảo san hô khô cằn, lởm chởm, không dung nạp chúng tôi. Tìm được một chỗ bằng phẳng để ngồi xuống cũng đã khó chứ chưa nói đến việc ngả lưng.
Sau gần một tiếng đồng hồ loay hoay tìm kiếm, tôi chọn được một hốc đá tương đối rộng rãi để định cư. Cái áo làm mái nhà đổi vai trò trở thành tấm chiếu cho trẻ con ngồi.
“Ðau đít quá ba ơi,” bé Mai nhăn nhó nói.
Tôi ẵm con lên, đặt nó ngồi trên bọc quần áo, rồi bảo Phượng, “Em coi chừng con, anh đi quanh tìm xem có con ốc, con sò nào không.”
Tôi ngỡ mình là người nhanh chân trong việc đi kiếm ăn, nhưng hơn chục người khác cũng đã lom khom trong các hốc đá tìm kiếm như tôi. Cái may của tôi là trong một kẹt đá nhỏ, tôi chụp được hai vợ chồng một chú tôm hùm khá to, mỗi con khoảng hai kí.
Phượng reo mừng, “đồ biển sẵn thế này là không phải lo đói nữa.”
Phượng lầm, mà tôi cũng lầm. Ðồ biển không sẵn như chúng tôi tưởng, hoặc ít ra thì đó cũng không phải là nguồn thực phẩm đủ cung cấp cho 140 người đói khát.

Tôi đi nhặt rác và rong biển về làm củi nướng tôm; tôi cũng tìm được một mảnh ván nhỏ cho Phượng ngồi. Bữa ăn đầu tiên trên hoang đảo, cách tìm thực phẩm, nướng và ăn bốc theo kiểu thượng cổ, vừa ngon lại vừa vui. Vợ chồng, con cái chỉ ăn hết một con tôm, con thứ nhì để dành.
“Em chưa thấy con tôm hùm nào lớn đến như vậy,” Phượng vừa chôn vỏ tôm xuống cát vừa bảo tôi.
Mới 6 giờ chiều, mặt trời còn cao mà gió biển nghe đã lạnh; tôi lo lắng bảo Phượng, “Có bao nhiêu quần áo em lấy mặc hết cho con. Cả em nữa.”
Gói hành lý được mở ra, tắp hết lên người. Mỗi đứa trẻ mặc 4 áo, 3 quần. Phượng được 3 áo, 2 quần. Tôi mặc thêm cái sơ mi nửa ra ngoài bộ đồng phục chưa thay từ ngày đi.
Gia đình ông hàng xóm sát hốc đá nhà tôi định xuống tầu tránh lạnh nhưng bị đuổi trở lên. Một số thanh niên tổ chức chiếm độc quyền cư ngụ trên tầu. Họ cũng ngưng, không phát thực phẩm như trước nữa.
Ðêm hôm đó một người đàn bà chết, có lẽ vì quá lạnh. Chúng tôi xuống tầu mượn được một cây xà beng và một cái búa để đục đá chôn người xấu số. Ðó là người đầu tiên và người cuối cùng được chôn. Lý do thứ nhất khiến chúng tôi không chôn người chết nữa là vì đục đá làm mồ là một công trình quá khó mà lại không hiệu quả. Lớp đá vụn lấp xác chết không chặt được như đất nên chỉ một ngày sau mùi thối đã xông lên nồng nặc. Lý do thứ nhì chua chát hơn: người ta không muốn vùi đi mấy chục kí thịt của người chết trong lúc tất cả đều đói.
Xác chết đầu tiên tôi thấy bị xẻ thịt là xác một thiếu nữ trắng trẻo, xinh xắn. Tôi đang đi nhặt ốc thì nhìn thấy xác cô, khuy áo bị cổi banh ra, chỗ đôi nhũ hoa chỉ còn thịt lầy nhầy và mấy rẻo xương lồng ngực. Một tiếng đồng hồ sau, tôi trở lại, cô đã bị lột truồng, bắp vế, bắp chuối bị xẻo mất.
Tôi rùng mình. Suốt 2 năm chinh chiến tôi cũng đã chứng kiến nhiều cái chết ghê rợn do súng đạn gây nên, nhưng quả thật chưa một xác chết nào làm tôi khiếp đảm hơn.
Thượng Ðế ơi, người đã sinh ra con người như sinh vật khôn linh hơn mọi sinh vật khác, sao người lại còn bày ra những thử thách trớ trêu đó để làm gì? Ðể chứng minh là con người cũng không hơn gì loài cầm, loài thú ư?
Tôi trở về hốc đá với khuôn mặt chắc phải vô cùng sầu thảm; nhìn tôi, Phượng bảo, “Mình đuối lắm rồi, để em đi kiếm thực phẩm thay mình.”
“Em không đi đâu hết,” tôi gạt phăng.
Vợ tôi nhìn tôi lo sợ; có thể Phượng thấy phản ứng của tôi không bình thường, chưa bao giờ tôi gắt gỏng với nàng, ngay cả những lần nàng theo bác phu xích lô đi khách. Quanh chúng tôi, người ta phát điên, người ta đánh nhau chỉ vì những chuyện không đâu. Tình trạng tuyệt vọng, kinh hoàng làm chúng tôi thành hốt hoảng. Có thể Phượng nghĩ tôi cũng đang có những triệu chứng bắt đầu. Tôi an ủi vợ, “Anh không muốn em đi đâu hết. Quanh chúng ta đang có trên 100 người mất tự chủ. Em phải ở cạnh anh.”
Thật ra tôi chỉ muốn tránh cho Phượng khỏi nhìn thấy xác người thiếu nữ không vú, không đùi. Kéo đầu Phượng gục vào vai, tôi vỗ về, “Rồi mọi chuyện sẽ khá hơn; thế nào chẳng có một thương thuyền đi qua đây.”
Tôi nói để mà nói, nhưng tôi nghĩ Phượng không mấy tin, không mấy quan tâm đến những điều tôi nói.
Chúng tôi đã đói khát gần 1 tuần lễ; quanh bờ biển không còn một cái vỏ hào nào nguyên vẹn. Người đầu tiên vừa đập vỡ con hào để lấy ruột, thì chỉ vài phút sau đã có người đến đập lần thứ nhì, hy vọng vớt vát một chút gì còn xót lại.

Ðến tuần thứ nhì không ai còn dấu diếm chuyện ăn thịt người nữa. Gần như tất cả mọi người đều đã ăn thịt đồng loại. Tệ hơn là họ không chờ nạn nhân chết hẳn mới xẻ thịt. Ðể thịt và ruột gan không lạnh tanh, họ xẻ thịt những người đang thoi thóp, ngắc ngoải. Xương và đầu người chết bị ném xuống biển, cám dỗ hàng bầy cá mập.
Nhìn những con cá hung hãn chồm vào đến tận bờ để chia phần thịt người, tôi bàn với ông hàng xóm phương pháp bẫy cá mập. Chúng tôi đào một vũng cạn, rồi lấy đá be bờ khá cao. Sườn vũng nước nghiêng vào bờ, bên trong sâu hơn bên ngoài bờ biển.
Mượn cái đầu của một bà lão vừa bị xẻ thịt, chúng tôi thả mồi chờ cá mập; thời gian chờ đợi không lâu hơn 20 phút: theo đà sóng một con cá mập nhỏ, khoảng trên dưới 40 kí, trườn vào bẫy.
Sóng rút ra, cá mập mắc cạn và chết ngay sau vài chục nhát búa và xà beng của chúng tôi. Chúng tôi lôi cá lên cạn xẻ thịt; khoảng vài chục người đến hôi món thịt cá mập. Việc xẻ thịt chưa xong, con cá mập thứ nhì đã lại trườn vào bẫy trước tiếng reo hò mừng vui của hơn 100 con người đói khổ.
Thịt cá mập béo ngậy và tanh rình, nhưng vẫn giúp chúng tôi tránh được ăn thịt người, và cái bẫy cá mập của tôi trở thành nguồn cung cấp thực phẩm khá dồi dào cho những nạn nhân mắc cạn.
Cái khổ của chúng tôi là trên đảo san hô không còn một thứ gì có thể sử dụng thay củi nữa cả; một vài người liều lĩnh xách búa ra định bửa tầu lấy gỗ, nhưng chỉ cần một phát súng bắn chỉ thiên của nhóm thanh niên khỏe mạnh, ăn uống đầy đủ, lại có võ khí, đang chiếm giữ con tàu, cũng đủ làm những người liều nhất trở thành khôn ngoan, lui nhanh vào bờ.
Cầm miếng cá sống, vừa xệu xạo cắn, Phượng vừa hỏi tôi, “Mình có còn tin được câu người ta thường nói ‘trời xanh có mắt’ nữa không?”
Tôi thở dài. Nếu quả trời có mắt thì cặp mắt đó đã nhắm lại từ 4 năm nay rồi. Bé Mai chỉ còn là một cái xác nhỏ xíu, gầy ốm, thoi thóp níu vào cuộc sống. Thằng Vinh khá hơn đôi chút, nhưng cũng nằm lả, đôi mắt gần như không bao giờ hé mở.
Tôi nhai miếng cá trong miệng đến thành nước rồi cúi xuống mớm cho con. Phượng thút thít khóc. Cũng như tôi, vợ tôi hiểu mạng sống của đứa con gái chúng tôi thương yêu, nâng niu, đang tàn lụi dần và sẽ tắt hẳn, khi gió biển, nắng cháy, và thiếu dinh dưỡng, cướp đi những sinh lực cuối cùng.
Bé Mai bỏ đi tối hôm đó. Ôm con trong tay tôi nghe hơi thở nó yếu dần, yếu dần trước khi tắt hẳn. Cơ thể của đứa con yêu thương vẫn mềm mại nhờ chút hơi ấm của tình phụ tử ủ ấp.
Tôi lặng đi ngồi ôm xác con trong gió biển cắt da; khoảng một tiếng đồng hồ sau Phượng hỏi tôi, “Con có khá hơn không mình?”
Tôi hiểu nghĩa câu hỏi này: Phượng muốn biết bé Mai đã chết chưa, nhưng chữ “chết” ghê rợn không phát ra được trên đôi môi người mẹ. Tôi lặng thinh để vợ tôi ngỡ là tôi đã thiếp đi trong mòn mỏi. Nhưng rồi tôi thiếp đi thật; sức chống đỡ của cơ thể chỉ có giới hạn. Giữa những hoàn cảnh phi lý nhất, thể chất vẫn giữ nguyên những đòi hỏi bình thường của nó. Ôm xác con trong tay, ngồi giữa một cô đảo Thái Bình Dương, tôi ngủ ngon lành.
Tôi bị mặt trời nhiệt đới đánh thức; mở mắt dạy trong ánh nắng chói lòa, tôi hốt hoảng nhận ra là bé Mai không còn nằm trong tay tôi nữa. Phượng cũng không thấy đâu cả. Tôi cất tiếng gọi vợ, tiếng sau lớn hơn tiếng trước, những tiếng cuối cùng trở thành tiếng gào kinh hoảng.
Những người chung quanh nhìn tôi; cặp mắt họ không thiện cảm, nhưng cũng không ác cảm, mà chỉ là những cập mắt vô can mất hết khả năng xúc động. Cái khổ đau, bất hạnh của tôi, tôi cứ tự gánh lấy. Phần riêng của họ cũng đã quá lớn, họ không thể chia xẻ thêm với ai chút gì nữa cả.
Tay ẵm thằng Vinh, tôi phóng nhanh xuống bờ biển vừa chạy quanh đảo, vừa gọi Phượng. Vợ tôi ngồi xẹp trên một phiến đá, vẻ mặt sầu khổ. Ôm chầm lấy vợ, tôi hỏi, “Em đi tìm con?”
Vợ tôi không nói được một tiếng nào cả.
“Họ đã xẻ thịt bé Mai?” Phượng gật đầu rồi gục vào vai tôi thút thít khóc; tôi lặng đi, tê tái.
Nguyên ngày hôm đó vợ chồng chúng tôi không nói thêm với nhau một câu nào nữa. Trước những đổ vỡ thương đau toàn diện, chúng tôi không còn khả năng khóc, than.
Sáng hôm sau, sau một vòng đi tìm thực phẩm thất bại như từ nhiều ngày nay, tôi trở về hốc đá và tình cờ khám phá ra nguyên nhân giúp bé Vinh còn tương đối mạnh khỏe: Phượng đang cho con bú. Tôi ngạc nhiên vì từ trước đến giờ Phượng không hề làm việc đó. Cả bé Mai cũng bú sữa bò từ khi mới lọt lòng.
Phượng bối rối nhìn tôi, trong lúc tôi nhìn bé Vinh: môi đứa bé đỏ lòm. Tôi kéo vú Phượng ra để thấy một vết cắt còn mới trên đầu vú. Tôi tìm thấy nhiều vết cắt khác ở đầu ngón tay, ở cổ tay người mẹ khốn khổ. Thở dài, tôi cúi đầu. Phượng đang trút tàn lực sang để nuôi một mầm sống. Việc làm vô cùng đáng kính phục đó chắc chắn sẽ làm tôi trở thành góa bụa sớm hơn.
Dĩ nhiên tôi không ngăn cản, cũng không phiền trách gì Phượng. Ðiều độc nhất tôi có thể làm là cố gắng hơn nữa trong việc tìm kiếm thực phẩm để nuôi Phượng và bé Vinh, nhưng số người đói khát thì đông mà số thực phẩm lại giới hạn nên gần như chúng tôi không còn tìm ra bất cứ một thứ gì, dù chỉ là cỏ, là cây, để nhai trong miệng.
Bốn ngày sau ngày bắt gặp Phượng cho con bú bằng máu, tôi tìm được một con của khá lớn. Phượng ăn gượng gạo rồi lại nằm ngay. Vợ tôi đuối đến mức tôi phải xé từng miếng thịt cua, đút vào miệng cho nàng.
Suốt tuần sau, tôi chỉ tìm được vài con ốc. Nhìn những triệu chứng sắp chết của vợ, tôi nghe đứt ruột. Tôi không dám đi kiếm thực phẩm xa nữa, sợ người ta đến ăn thịt Phượng.
Hai ngày sau, đang nửa mơ, nửa tỉnh, tôi chợt nghe nhiều tiếng súng; tiếp theo là tiếng reo hò. Bàng hoàng choàng dậy, tôi nhìn theo hướng nhìn của mọi người và thấy một chiếc tàu đang từ từ tiến lại.
Tim tôi ngừng đập; cuối cùng trời vẫn còn có mắt, chúng tôi sắp được cứu sống, và tôi vẫn còn Phượng, còn người vợ mà trong hoạn nạn tôi thấy tình yêu trở thành to lớn hơn, bền chặt hơn. Tôi sẽ lại được mê mệt, được khổ sở với cặp mắt đa tình của Phượng.
Trong tiếng reo hò của những người đồng cảnh ngộ, tôi cúi xuống thủ thỉ bảo vợ, “Hôm trước em hỏi anh có còn tin là ‘trời xanh có mắt nữa không’; bây giờ anh trả lời em là anh tin. Anh tin cuối cùng rồi ông trời vẫn có mắt.”
Nhưng tôi đã lầm. Ðối với những kẻ bất hạnh, vô phước như tôi, ông trời (nếu có ổng) đã vĩnh viễn nhắm mắt, quay mặt đi.
Con tầu tôi đang nhìn theo là một ngư thuyền của Ðài Loan. Họ neo xa bờ chừng 2 cây số, rồi cho ghe nhỏ vào chở người đại diện của chúng tôi ra thương lượng. Cuộc thương lượng, nói trắng ra chỉ là một cuộc trả giá.

Người đại diện trở về cho chúng tôi biết tầu Trung Hoa đòi một số vàng lớn mới chịu cứu chúng tôi. Số người có vàng đề nghị chia số người Trung Hoa đòi hỏi trên đầu người; những kẻ trắng tay như tôi ngồi lặng thinh, dự thính.
Chiều hôm ấy người đại diện của chúng tôi trở ra ngư thuyền Trung Hoa với một phản đề nghị. Cuộc trả giá kéo dài cho đến tối, và ông ta ngủ lại trên tầu đánh cá. Sáng hôm sau ông trở lại với 3 người Tầu, và bắt đầu cuộc ghi danh, góp vàng.
Những người có vàng để góp lần lượt được xuống ghe máy để ra tàu trước cặp mắt thèm thuồng của chúng tôi. Khoảng xế chiều việc đưa những người góp vàng ra tàu hoàn thành. Người Trung Hoa chở vào cho chúng tôi một thùng cá và bảo, “Các anh ăn uống tạm tối nay. Sáng mai chúng tôi sẽ vào chở tất cả ra tàu.”
Thì ra họ chỉ muốn làm khó dễ để lột một số vàng của những người có tài sản. Sáng hôm sau toàn bộ chúng tôi được chở ra tàu; một thủy thủ Trung Hoa giúp tôi bồng bé Vinh, trong lúc tôi bồng Phượng xuống ghe.
Yếu đuối, tôi ngã mấy lần, Phượng mở mắt nhìn tôi, cặp mắt tình tứ, đắm đuối ngày xưa, giờ này đã mất thần.
Xuống tầu, tôi xin một ly sữa, đút cho Phượng, nhưng vợ tôi không còn nuốt được nữa. Tôi biết cơ thể nàng đã mất hết hydrate; giải pháp độc nhất còn lại là nuôi bằng nước biển, nhưng làm gì có thứ đó trên một ngư thuyền.
Phượng lịm dần và hơi thở thật sự tắt hẳn vào đêm hôm đó. Xác nàng bị chuồi xuống biển theo hình thức thủy táng.

TÔI DỨT CÂU CHUYỆN vào lúc 11 giờ sáng ngày 30 tháng Tư năm 2004, rồi bảo thằng Vinh, “Ba hứa ngày con học xong, ba sẽ kể lại câu chuyện về mẹ con cho con nghe; ba đã thực hiện lời ba hứa.”
Nó bước đến trước ghế tôi ngồi, quỳ xuống, gục đầu lên đùi tôi, “Ba đau khổ nhiều quá,” lời nó nghẹn lại. “Con thương ba.”
Tôi vuốt tóc nó, “ba thương con.”
“Con muốn vinh danh mẹ,” thằng Vinh bảo tôi. Năm đó nó 26, vừa ra trường thuốc Austin, và đang tập sự tại nhà thương Memorial Hertman, Houston, nơi tôi làm việc.
“Bằng cách nào?” tôi hỏi nó.
“Con muốn về Việt Nam để cùng bác sĩ Nguyễn Ðan Quế tranh đấu giải thể chế độ cộng sản dã man đã giết mẹ con, giết chị Mai, và làm ba buồn khổ suốt cuộc đời.”
“Môi trường tranh đấu tại hải ngoại thuận lợi hơn môi trường quốc nội,” tôi bảo Vinh. “Tiếng nói của con sẽ lớn hơn, vì có một đối tượng rộng hơn, quyền hạn hơn.”

Nó nghe lời tôi, và giờ này bác sĩ Trần Phượng Vinh, con của bác sĩ Trần Quang trở lại trường đại học; môn học mới của nó là điện ảnh.
Họa sĩ Thương Thương, hôn thê của nó đã vẽ xong từ năm ngoái bức tranh quảng cáo cuốn phim đầu tay ÐÔI MẮT PHƯỢNG của tài tử kiêm đạo diễn Phượng Vinh.
Nó đóng vai trung úy quân y của Sư Ðoàn Nhẩy Dù, trung úy Trần Quang.

NĐT