Wednesday, May 1, 2013
NHỮNG ĐỒNG MINH ANH HÙNG
NGÔ KỶ chuyển ngữ
Bây giờ đã quá trễ để Hoa Kỳ chuộc lại tội ác tầy trời khi bỏ rơi nhân dân miền Nam Việt Nam vào tay Cộng Sản. Nhưng nó chưa quá trễ để Hoa Kỳ thú nhận lỗi lầm trong việc nhục mạ họ. Và cũng chưa quá trễ để bắt đầu vinh danh các thành quả và lòng dũng cảm của những binh sĩ VNCH đã chiến đấu bảo vệ lý tưởng tự do.
"Heroic Allies" của Harry F. Noyes III đăng trong Nguyệt San VIETNAM, phát hành tháng 8 năm 1993. Do Ngô Kỷ chuyển ngữ để kính tặng và tri ân sự chiến đấu dũng cảm và tuyệt vời của những Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
Họ dáng người thì nhỏ nhắn, nói chuyện bằng những âm ngữ líu lo, thường chan nước mắm vào thức ăn và hay cầm lấy tay nhau.
Chẳng ai ngạc nhiên lắm khi thấy những quân nhân Mỹ gởi qua Đông Nam Á - phần lớn họ còn rất trẻ, có một kiến thức nông cạn, được đào tạo trong một xã hội vị kỷ và hiểu rất ít về những nền văn hóa khác - họ không cảm thông được tâm trạng của các binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).
Thật đau lòng khi có nhiều cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam lại đi cấu kết với cái đám phản chiến cấp tiến, những tên trốn quân dịch và bọn chính khách hoạt đầu xúm nhau bôi nhọ danh dự của một Quân Lực đã chẳng còn có cơ hội để được tự bào chữa. Nhục mạ một quân đội đã sa cơ trên chiến trường vì bị Hoa Kỳ phản bội là một hành động đê tiện và bất xứng của những người Hoa Kỳ.
Có thể một số quý vị sẽ ngạc nhiên về lý luận của tôi. Làm sao tôi có thể biện hộ cho quân lực VNCH được? Phải chăng tất cả binh sĩ VNCH đều thuộc loại bất tài, xảo trá và hèn nhát? Không, không phải vậỵ. Trong bài này tôi sẽ vạch ra một số bằng chứng xác đáng để phản bác lại cái luận điệu đê hèn đó và phân tích lý do tại sao cái luận điệu đó phát sinh. Dĩ nhiên, quân đội VNCH không toàn hảo. Họ cũng có một số lãnh đạo tồi tệ, một số lính tráng hèn nhát, vài ba lần hoảng hốt bỏ chạy, xằng bậy và hung bạo. Tuy nhiên, các điều này cũng đã từng xảy ra đối với quân đội Hoa Kỳ tham chiến tại Đông Nam Á.
Trong một số lãnh vực như: tổ chức, tiếp vận, tham mưu và chỉ huy, quân đội VNCH thua kém quân đội Hoa Kỳ thật. Nhưng họ làm gì khác hơn được khi đất nước họ là đất nước đang phát triển, họ mới giành độc lập từ tay chế độ thuộc địa và bất ngờ lao vào một trận chiến khốc liệt, đối đầu với kẻ thù hung hăng được vũ trang hùng hậu từ cả khối Cộng Sản? Thật ra, các khuyết điểm của quân đội VNCH có cũng giống như các khuyết điểm mà quân đội Hoa Kỳ mắc phải trong Trận Chiến Dành Độc Lập, dù rằng Hoa Kỳ vào thời cuối thế kỷ 18 đó có nhiều lợi điểm hơn, như:
- Tầm vóc của Cuộc Cách Mạng Dành Độc Lập hạn hẹp hơn và dễ điều khiển hơn.
- Khác với sự bị trị của Việt Nam, Hoa Kỳ qua kinh nghiệm bị trị đã nuôi dưỡngtinh thần tự trị địa phương và tạo thuận lợi cho quốc gia đào tạo nên những nhà lãnh đạo ưu tú.
- Quân đội Hoàng Gia Anh không bền bỉ như quân đội Bắc Việt.
- Có phải các binh sĩ Hoa Kỳ giỏi giang hơn các chiến hữu đồng minh của họ đến độ người Mỹ đối xử miền Nam Việt Nam với một thái độ khinh rẻ như vậy.
Câu trả lời cho cả hai câu hỏi trên là: "Không!"
Bằng chứng cho câu trả lời đó thật rõ ràng. Ý đồ Tổng Công Kích Tết Mậu Thân của Cộng quân là bẻ gẫy ý chí pḥòng thủ của miền Nam Việt Nam. Nhưng chúng đã thất bại, binh sĩ VNCH đã chống trả một cách quyết liệt và hữu hiệu: không một đơn vị nào bị tan rã hay tháo chạỵ. Thậm chí cảnh sát cũng đã chiến đấu, họ dùng cả súng lục để bắn lại bộ đội chính quy của Bắc Việt trong khi những người bộ đội CS này thì lại được võ trang với vũ khí hạng nặng. Theo báo cáo cho thấy là vào thời điểm đó, số người tình nguyện nhập ngũ lên quá cao, đến nỗi chính phủ phải ngưng tuyển mộ lính trong một thời gian.
Trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, các binh sĩ VNCH bị vây hãm tại An Lộc đã anh dũng tử thủ chống trả lại lực lượng hùng hậu của địch, cùng với những trận mưa pháo bất tận, và cuối cùng họ đã đè bẹp được những trận tấn công liên tục của các chiến xa địch quân. Sau đó, tôi được một cố vấn Mỹ kể lại chuyện một tiểu đội bộ binh VNCH được lệnh phải phá hủy 3 chiếc xe tăng của địch. Ông kể:
- Các binh sĩ của tiểu đội này phá hủy được một chiếc xe tăng, rồi sau đó họ lại tự quyết định bắt sống hai chiếc xe tăng kia. Họ rượt bộ và bắt được thêm một chiếc nữa, còn chiếc kia thì chạy thoát. Khi trở về pḥòng tuyến, họ bị khiển trách nặng nề.. vì đã để chiếc xe tăng kia tẩu thoát."
Tuy hành động của tiểu đội lính này không đúng với quân kỷ lắm, nhưng cái hành động đó đã nói lên tinh thần chiến đấu cao độ và sáng kiến tác chiến của rất nhiều binh sĩ VNCH. Chắc chắn sự kiện trên không thể hổ trợ luận điệu cáo buộc họ hèn nhát được.
Một chứng cớ điển hình hơn, trong những giờ phút cuối cùng của miền Nam Việt Nam năm 1975, khi mà nỗi tuyệt vọng bao trùm lên cả đất nước họ, khi mà biết rõ rằng Hoa Kỳ sẽ không yểm trợ gì nữa (ngay cả nhiên liệu và đạn dược); ấy thế mà một sư đoàn VNCH đã anh dũng cầm cự chiến đấu với bốn sư đoàn quân Bắc Việt trong suốt hai tuần lễ tại Xuân Lộc. Trên mọi bình diện, trận chiến Xuân Lộc đó cũng hào hùng như bất cứ trận chiến nào trong quân sử Hoa Kỳ. Các binh sĩ VNCH cuối cùng đã phải rút lui vì không lực của họ không còn bom cluster để yểm trợ cho lực lượng bộ binh đụng trận dưới đất.
Có lần tôi được coi một phim tài liệu truyền hình nói về một người phóng viên Úc đặc trách quay phim chiến trường. Khác với các phóng viên Mỹ, ông ta dành nhiều thì giờ theo sát binh sĩ VNCH. Ông ta công nhận tinh thần chiến đấu anh dũng của họ, và để minh chứng điều đó, ông đã cho trình chiếu cả cuốn phim. Ông ta nhớ lại rằng, trong chuyến thăm viếng một khu làng do địch quân kiểm soát, ông được nghe kể rằng Cộng Sản sợ binh sĩ VNCH hơn là sợ binh sĩ Mỹ. Cái lý do chính là binh sĩ Mỹ quá ồn ào, do đó địch quân luôn nghe trước được đường tiến quân của họ. Làm sao có được điều so sánh này nếu trên thực tế các binh sĩ VNCH không thuộc loại lính thiện chiến.
Tuy nhiên, cái chứng cớ quan trọng nhất để chứng minh tinh thần chiến đấu cao độ của binh sĩ VNCH nằm trong hai sự kiện thật đơn giản và rõ ràng sau đây, dù rằng các sự kiện này thường bị làm ngơ hoặc giả vờ không biết nhằm che đậy sự thất bại của Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Sự kiện thứ nhất: Chiến tranh đã bắt đầu từ 7 năm trước khi quân đội tác chiến Hoa Kỳ bước chân vào Việt Nam, và trận chiến đó vẫn tiếp tục kéo dài suốt 5 năm sau khi Hoa Kỳ rút quân. Phải có những người đứng ra chiến đấu trong thời gian đó, và không ai khác hơn là các binh sĩ VNCH.
Sự kiện thứ hai: Có độ 1/4 triệu binh sĩ VNCH hy sinh trong cuộc chiến. Nếu đem so sánh tỷ lệ dân số hai nước, thì con số này phải tương đương với khoảng hai triệu người Mỹ chết (gấp đôi tổng số thương vong của tất cả cuộc chiến Hoa Kỳ cộng lại). Bạn không thể tổn thất lớn lao như vậy nếu bạn không thực sự chiến đấu.
Thế thì tại sao thanh danh quân đội VNCH lại bị xúc phạm nặng nề như vậy?
Dĩ nhiên quân đội VNCH cũng có một số lần chiến đấu kém hiệu năng hoặc bị khủng hoảng, nhưng các trường hợp này cũng từng xảy ra trong quân đội Hoa Kỳ. Tôi biết một vị chỉ huy đơn vị pháo binh Hoa Kỳ đã có lần ra lệnh trực xạ vào địch quân vì lực lượng bộ binh Mỹ "bảo vệ" cho căn cứ pháo binh đã hốt hoảng tháo chạy trước hỏa lực hùng hậu của địch.
Sự kiện trên không có nghĩa là toàn thể quân đội Hoa Kỳ hèn nhát, và đôi lần thất bại của binh sĩ VNCH cũng không có nghĩa là toàn thể quân đội VNCH hèn nhát. Dù vậy, người ta lại rất dễ tin như thế khi được nghe kể lại từ chính miệng các cựu chiến binh Hoa Kỳ hoặc từ các chính trị gia nhằm chạy tội cho chính phủ Hoa Kỳ về việc bỏ rơi miền Nam Việt Nam trong cơn hấp hối.
Sự thật của vấn đề được diễn tả khéo nhất qua mẩu đối thoại cách đây gần hai thế kỷ khi một mệnh phụ Anh hỏi Quận Công Wellington rằng: "Có bao giờ quân Anh tháo chạy trên chiến trường không?" Vị Thiết Quận Công này trả lời: "Thưa bà, tất cả binh sĩ đều bỏ chạy trên chiến trường."
Chỉ cần lướt qua quân sử cũng đủ để xác nhận điều này. Trong suốt cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ, chúng ta đã thấy rất nhiều tấm gương can đảm nhưng cũng không thiếu gì các hành động khiếp nhược. Trên mặt trận, lúc đầu binh sĩ của hai phe Nam Bắc đều chiến đấu rất dũng cảm, rồi pḥòng tuyến vỡ, rồi bỏ chạy, rồi tái phối trí và chiến đấu trở lại. Không có quân đội nào được xem là có lòng hy sinh anh hùng hơn họ, nhưng những binh sĩ tham dự trận nội chiến này cũng không tránh khỏi những lúc thất điên bát đảo, và đó cũng là chuyện thường tình trên chiến trường..
Tác giả S.L.Ạ Marshall đã tường thuật chuyện một đại đội lính Mỹ trong Đệ Nhị Thế Chiến đã tháo chạy tán loạn trước tiếng la ré xung phong của một toán lính Nhật. Nhưng đại đội lính Mỹ khác thì lại tiếp tục chiến đấu, giết sạch hết toán lính Nhật (độ 10 người), và khám phá ra rằng hầu hết những tên lính Nhật này không võ trang gì cả. Nếu chuyện trên xảy ra cho một đơn vị quân đội VNCH, thì chắc chắn những kẻ muốn bôi nhọ quân đội này sẽ lợi dụng đó như là một "cơ hội bằng vàng" để mạ lị rằng toàn thể quân lực VNCH là hèn nhát.
Tại sao vậy? Tôi đã nêu ra câu trả lời rồi. Tất cả tùy thuộc vào màu da và ngôn ngữ của các binh sĩ liên hệ. Sự thật bỉ ổi là việc mạ lị quân đội VNCH lại xuất phát từ tinh thần kỳ thị chủng tộc và bồng bột của nền văn hóa Hoa Kỳ.
Tôi có thể làm chứng cho việc xuyên tạc đầy ác ý và phổ quát này. Khi vừa đến Việt Nam vào tháng 6 năm 1969, tôi đã chứng kiến ngay sự ngu ngơ và thái độ khinh bỉ của một số người Mỹ đối với nhân dân và quân đội VNCH. Cái thái độ đó nằm trong mọi tập thể quân nhân da trắng lẫn da đen, trong các giới dân sự cũng như ký giả Hoa Kỳ. Phong trào thù ghét đất nước và nhân dân Việt Nam bị lan tràn như một thứ bệnh dịch truyền nhiễm đáng ngạc nhiên.
Tôi quen một viên đại úy Hoa Kỳ tốt nghiệp về môn điện ảnh từ một viện đại học danh tiếng (một ngành chuyên môn được dùng để giúp nâng cao tŕnh độ nhận thức quan sát). Khi viên đại úy này trở lại đơn vị sau một chuyến công tác ngắn tại Thái Lan, anh ta ca ngợi đáo để dân tộc Thái Lan. Anh nói rằng: "Dân Thái Lan cho con cái đi học khác hẳn với dân Việt Nam". Anh ta ngạc nhiên nhưng lại không lộ vẻ hối hận khi tôi chỉ cho anh thấy một ngôi trường Việt Nam sát nách doanh trại chúng tôi. Bất cứ ai có mắt cũng đều thấy hàng trăm em học sinh mặc đồng phục quần xanh áo trắng qua lại mỗi ngày, chỉ trừ anh chàng phim ảnh này không nhìn thấy các em mà thôi.
Thật là mỉa mai khi người Việt Nam có tiếng hiếu học hơn người Mỹ, và miền Nam Việt Nam đã nâng cao được mức biết đọc biết viết từ 20% lên 80% trong khi đất nước chiến tranh triền miên (và mặc dù Cộng Sản chủ trương giết hại các giáo chức), thế mà lại bị anh chàng phim ảnh này cho rằng Việt Nam không có trường học. Vì bị gởi đi chinh chiến xa xôi và bị cách biệt gia đình, nên anh Mỹ này nảy sinh lòng oán ghét Việt Nam, và tạo nên thành kiến rằng mọi người Việt Nam đều đáng khinh. Do đó, trong đầu anh cứ ám ảnh là Việt Nam không có trường học, dần rồi cái tâm lý bệnh hoạn đó đã làm hư đi cái khả năng nhận thức và đánh lừa cả thị giác của anh.
Hãy tưởng tượng cái tâm trạng của một tập thể lính Mỹ ít học, sống giữa một nền văn hóa xa lạ và thần kinh lúc nào cũng bị căng thẳng ra sao?! Có lẽ chúng ta không nên trách cứ những người lính thiếu học này, lỗi là do nơi các cấp chỉ huy Hoa Kỳ đã huấn luyện họ hiểu một cách mơ hồ về đất nước Việt Nam cũng như về thực chất của cuộc chiến.
Tuy nhiên, đó không phải là cái cớ để các cựu chiến binh Mỹ huênh hoang rằng họ hiểu những cái mà họ đã thấy tại Việt Nam. Các cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam cần được vinh danh về các đức tính can đảm, hy sinh, ái quốc của họ. Nhưng can đảm và hy sinh không đồng nghĩa với kiến thức. Đánh giặc tại Việt Nam không làm cho những người lính này trở thành những chuyên viên thông thạo về đất nước hoặc cuộc chiến Việt Nam, cũng như việc mang nặng đẻ đau không thể biến người đàn bà trở thành một chuyên gia về thai nhi học được.
Giới truyền thông Mỹ cũng chẳng khá gì hơn. Trong một phóng sự đầy thành kiến, tôi nghe một phóng viên lên án Không Lực VNCH - dù đã được tân trang qua chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh - thế mà lại "đẩy cho Không Quân Hoa Kỳ" thực hiện những phi vụ nguy hiểm ngoài Bắc Việt. Trên thực tế Hoa Kỳ không muốn Không Quân VNCH bay ra Bắc (chỉ trừ vài phi vụ oanh tạc ban đầu). Các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ muốn kiểm soát kế hoạch oanh tạc để dùng nó như một lá bài thương thuyết. Vì không muốn miền Nam Việt Nam có bất cứ quyền kiểm soát nào trong chính sách oanh tạc, Hoa Kỳ đã trang bị cho Không Quân VNCH những vật dụng không thích hợp cho các phi vụ ra Bắc. Miền Nam Việt Nam không được cung cấp oanh tạc chiến đấu cơ, phi cơ tiếp liệu trên không, vũ khí hay các dụng cụ điện tử cần thiết cho các phi vụ này. Đó là quyết định của người Mỹ.
Câu hỏi đặt ra là có phải người phóng viên truyền hình nêu trên dốt đặc về sự kiện đó hay giả vờ không biết nhằm đi hạ nhục những đồng minh của Hoa Kỳ. Dựa vào các lời lẽ lố bịch, chói tai và thanh âm của anh ta, tôi kết luận rằng anh ta chủ mưu làm như vậỵ. Một thí dụ khác nói lên cái thành kiến của giới truyền thông, đó là trận chiến vây hãm Khe Sanh. Nếu bạn đi hỏi một ngàn người Mỹ từng nghe biết về trận đánh này rằng đơn vị nào chiến đấu tại Khe Sanh, thì có lẽ hầu hết đều trả lời là Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Nhưng sẽ làm họ ngạc nhiên nếu có một người trong số ngàn người đó nói rằng có một tiểu đoàn Biệt Động Quân VNCH đã cùng chia sẻ nỗi gian lao với các đồng minh Thủy Quân Lực Chiến Hoa Kỳ trong trận chiến ngặt nghèo đó. Có nhiều đơn vị VNCH khác cũng đã hổ trợ chiến đấu bên ngoài vòng đai căn cứ Khe Sanh.. Giới truyền thông Mỹ không đếm xỉa đề cập đến các chiến hữu đồng minh của Hoa Kỳ, mà họ chỉ để ý đến những điều bê bối thôi, bởi vậy những binh sĩ VNCH chiến đấu cam khổ này đã bị trở thành những chiến sĩ "vô hình" của Khe Sanh.
Tất cả thành kiến - trong quân đội cũng như trong truyền thông - được thể hiện rõ ràng qua các bản tin chiến sự về cuộc hành quân Hạ Lào năm 1972.
Trong cuốn phim tài liệu truyền hình mười năm trước đây, có một đoạn phỏng vấn lính Mỹ trong lúc chiến trường Hạ Lào đang tiếp diễn. Các lính Mỹ được phỏng vấn này đang sống an toàn tại hậu cứ Nam Việt Nam. Họ "giải thích" về sự chiến đấu của quân đội VNCH với những lời lẽ khinh bỉ và kỳ thị. Thế mà sau đó người phóng viên này đã ca ngợi khen mấy người lính G.I Mỹ đó am tường về tình hình chiến sự hơn là các nhà tướng lãnh Hoa Kỳ.
Trận Hạ Lào đã trở thành đề tài vì nó có liên quan đến một tấm hình có cảnh người lính VNCH bám vào cái càng máy bay trực thăng để trốn chạy khỏi chiến trường. Tấm hình này bị bêu riếu khắp nước Mỹ ngày này qua tháng nọ như là một "bằng chứng" về sự khiếp nhược của quân lực VNCH. Thực tế, đây là một trò cổ điển nói lên mãnh lực của sự xuyên tạc hình ảnh. Thật ra thì sự việc nó diễn tiến như sau: Binh sĩ VNCH bị tấn công bởi một lực lượng Cộng quân hùng hậu. Quân đội Hoa Kỳ đã thất bại trong việc yểm trợ như đã hứa vì hỏa lực phòng không của địch quá mạnh. Những báo cáo cho biết là lính trên trực thăng đã đạp những thùng đạn đại bác từ cao độ 5,000 feet xuống với hy vọng chúng sẽ rơi vào vòng đai của quân đội VNCH. Các trực thăng đó đã không thể nào bay thấp hơn được.
Đại tá Robert Monelli, một sĩ quan Hoa Kỳ có mặt trong mặt trận đó đã kể lại trên báo Armed Forces Journal số 19 tháng 4 năm 1972 như sau: "Một tiểu đoàn VNCH với 420 binh sĩ bi bao vây liên tiếp trong ba ngày bởi một trung đoàn Cộng Sản độ 2,500 đến 3,000 tên. Quân đội Hoa Kỳ không thể tiếp tế cho họ được. Họ phải chiến đấu cho tới khi gần hết đạn, rồi mở đường máu bằng khí giới tịch thu của địch. Họ đã mang theo tất cả binh sĩ bị thương và cả một số xác chết. Không ảnh thám sát chụp được rõ ràng có 637 xác địch rải rác chung quanh căn cứ.
Về phía quân đội VNCH, tiểu đoàn trên chỉ còn lại có 253 binh sĩ sau khi đến được vòng đai bạn. Chừng 17 người trong số binh sĩ này bị khủng hoảng và đã bám vào càng trực thăng để chạy trốn, số binh sĩ còn lại thì không làm như vậỵ"
Bây giờ, có thể một số người cho rằng hành động bám vào càng trực thăng đang bay và dễ làm mồi cho hỏa lực phòng không địch là một hành động gan dạ. Hãy xếp đề tài đó qua một bên, tôi muốn đề cập đến việc là tại sao chỉ có một trường hợp riêng lẻ như vậy - xáp lá cà mở đường máu rút lui (được coi là một chiến thuật khó khăn nhất trong binh thư) lại bị thổi phồng để đi lên án cả một quân lực, cả một quốc gia, cả một dân tộc?
Câu trả lời là tại vì kỳ thị chủng tộc. Các người lính VNCH bám lủng lẳng vào trực thăng bị coi là những tên ngoại quốc hợm hĩnh. Nhưng nếu là lính Mỹ, hay cả lính Anh, thì hành động này đã gây được lòng trắc ẩn vì được biện minh rằng họ vừa trải qua một cuộc thử thách đầy cam go. Bằng cớ cho lập luận này có thể thấy được qua cái phản ứng của người Mỹ đối với cuộc rút lui của binh sĩ Hoàng Gia Anh trong những ngày đầu của trận Đệ Nhị Thế Chiến. Từng có một số lần nhục nhã đã xảy ra trong quân đội Hoàng Gia Anh tại Dunkirk và nhiều nơi khác. Tại Dunkirk, một trung sĩ trên một chiếc tàu cấp cứu đã chĩa súng tiểu liên vào các binh sĩ khủng hoảng để duy trì trật tự. Trên một con thuyền khác, binh sĩ phải dùng báng súng đánh vào đầu một viên sĩ quan để ông ta khỏi leo qua mép thuyền làm nước tràn vào. Tại Crete, một lữ đoàn Tân Tây Lan phải lập vòng đai an toàn quanh biển bằng dao găm để ngăn chặn binh sĩ Hoàng Gia Anh tràn ngập lên thuyền. Cái hình ảnh quân đội Hoàng Gia Anh đơn thân độc mã chống lại Hitler năm 1940 thì ca ngợi là một biểu tượng đầy đủ dữ kiện, còn những trường hợp riêng lẻ như các trường hợp kể trên không được phép làm hoen ố cái bức tranh toàn cảnh dũng cảm và tận tụy của những người lính chiến.
Thành thật mà nói thì quân đội VNCH đã chiến đấu một cách tầm thường trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, ngoại trừ trận đánh hào hùng và tuyệt cú tại mặt trận Xuân Lộc. Nói vậy chứ nó cũng có những nguyên do của nó. Và cũng có nhiều yếu tố để ta tin rằng nếu nhận được sự yểm trợ chân thành từ phía Hoa Kỳ, quân đội VNCH đã có thể tạo được những trận thư hùng như kiểu Xuân Lộc, và không chừng ngay cả việc họ đã cứu vãn được đất nước.
Vấn đề đặt ra đây một lần nữa không phải đề bàn đến cách ứng xử của miền Nam Việt Nam, nhưng chính là đem so sánh cách ứng xử của họ với Hoa Kỳ để xem liệu Hoa Kỳ ứng xử ra sao nếu Hoa Kỳ bị nằm trong một hoàn cảnh, tình huống tương tự. Và thật sự - nếu binh sĩ Hoa Kỳ bị bỏ rơi giống như Hoa Kỳ đã cắt viện trợ Miền Nam Việt Nam một cách nặng nề trong năm 1974, nhiều tháng trước khi địch quân mở những trận tổng công kích lần chót. Hậu quả là chỉ có rất ít nhiên liệu và đạn dược cung cấp cho miền Nam Việt Nam. Phi cơ và quân xa của VNCH bị nằm ụ vì thiếu phụ tùng. Binh sĩ phải ra trận với máy truyền tin mà không có bình batteries, và các toán cứu thương thiếu cả các loại thuốc thang căn bản. Pháo binh thì bị giới hạn bắn được ba trái đạn mỗi ngày trong ngày cuối cùng của cuộc chiến. Tình trạng bi đát đến nỗi tư lệnh quân đội Bắc Việt xâm lăng miền Nam Việt Nam, tướng Văn Tiến Dũng cũng thừa nhận rằng khả năng di động và hỏa lực của quân đội VNCH đã sút giảm phân nửa. Bên cạnh những ảnh hưởng trực tiếp về vật chất, chúng ta cũng phải để ý đến những tác hại tinh thần đối với các binh sĩ VNCH. Lợi dụng tình thế bi thảm này, quân đội Bắc Việt đã ào ạt tấn công với đầy đủ vũ khí tối tân, chiến xa và đại bác di động.
Vâng, quân đội VNCH đã bại vong. Họ đã vất bỏ các chiến cụ (phần lớn đã không còn dùng được vì thiếu phụ tùng) và một số đạn dược (số đạn mà họ đã dành dụm tối đa cho đến khi nó trở thành quá muộn để bắn, bởi vì họ biết rằng sẽ không bao giờ nhận được tiếp tế nữa). Vậy thì lỗi của ai? Của họ... .hay của Hoa Kỳ?
Vâng, miền Nam Việt Nam rút quân khỏi các tỉnh cao nguyên e có phần trễ và vụng về, đưa đến sự khủng hoảng và sụp đổ. Nhưng làm sao chính phủ miền Nam Việt Nam lại cam tâm bỏ rơi đồng bào họ sớm hơn trước được, khi mà địch quân chưa tung ra một áp lực nào ? Đã có lúc miền Nam Việt Nam hy vọng oanh tạc cơ B52 Hoa Kỳ sẽ trở lại giúp họ ngăn chặn làn sóng tiến quân của Cộng Sản. Nhưng khi rõ ràng là việc này sẽ không xảy ra, binh sĩ trở nên hoang mang là một điều dễ hiểu thôi. Tinh thần chiến đấu suy sụp, nhiều binh sĩ bị bỏ ngũ - không phải họ hèn nhát hay không muốn chiến đấu bảo vệ tổ quốc, nhưng bởi vì họ không muốn chết một cách vô ích trong khi gia đình đang cần.
Liệu Hoa Kỳ đã có thể làm gì khá hơn nếu ở trong tình trạng y hệt miền Nam Việt Nam thời 1975? Liệu các đơn vị Hoa Kỳ có tiếp tục hăng say chiến đấu trong lúc quân xa và hệ thống truyền tin thì hư hỏng, y tế thì què quặt, nhiên liệu và đạn dược thì thiếu thốn, không được máy bay yểm trợ - lại phải đương đầu trước một địch quân hùng hậu hỏa lực, đầy đủ tiếp liệu và tinh thần phấn khởi ? Tôi không tin như vậy.
Liệu miền Nam Việt Nam có thể chiến thắng vào năm 1975 nếu chính phủ Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ cho họ một số lượng tương đương với số tiếp liệu mà khối Cộng Sản đổ vào Bắc Việt ? Câu trả lời không ai biết được. Nhưng chắc chắn một điều là họ cũng có được cơ hội chiến đấu bình đẳng, thế mà Hoa Kỳ đã phản bội tước đi cái cơ hội này của họ. Chắc chắn họ đã có thể chiến đấu một cách hiệu quả hơn. Rồi dù có thua, họ cũng thua một cách hào hùng trong một trận chiến để đời, và biết đâu đã chẳng tạo được một cuộc kháng chiến thần thánh như A Phú Hãn.
Ví dù miền Nam Việt Nam có bị đại bại hoàn toàn, cái yểm trợ tận lực của Hoa Kỳ sẽ cho phép người Mỹ nhún vai và nói rằng họ đã cố gắng hết sức. Nhưng, Hoa Kỳ đã không tận lực, mà trái lại người Mỹ lại còn cố gắng che đậy sự thật bằng cách bôi nhọ miền Nam Việt Nam và nhục mạ quân lực VNCH đã sai lầm.
Bây giờ đã quá trễ để Hoa Kỳ chuộc lại tội ác tầy trời khi bỏ rơi nhân dân miền Nam Việt Nam vào tay Cộng Sản. Nhưng nó chưa quá trễ để Hoa Kỳ thú nhận lỗi lầm trong việc nhục mạ họ. Và cũng chưa quá trễ để bắt đầu vinh danh các thành quả và lòng dũng cảm của những binh sĩ VNCH đã chiến đấu bảo vệ lý tưởng tự do.
Thursday, April 25, 2013
THÁNG TƯ- BOM NỔ BOSTON ĐẠN BAY KÝ ỨC
Trần Thu Miên
Tháng Tư 2013, hai quả bom khủng bố nổ giữa lòng Boston, nhưng hình như đạn vẫn còn bay trong ký ức của đồng bào tôi và của chính tôi, những người tị nạn Cộng Sản tha hương. Chúng tôi đã sống ở xứ sở thanh bình tự do gần 4 thập niên rồi mà sao vẫn chưa tìm thấy bình an vẫn chưa tìm thấy tự do.
Hàng năm cứ vào ngày thứ Hai tuần thứ Ba của tháng Tư, cư dân Bang Massachusetts được nghỉ lễ Patriots’ Day (Ngày của người yêu nước) để tưởng niệm và vinh danh các anh hùng ái quốc đã can đảm hy sinh trong cuộc khởi nghĩa chống Thực Dân Anh. Trận chiến mở đầu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc xảy ra tại Lexington và Concord bang Massachusetts vào ngày 19 tháng Tư, 1775. Ngày này cũng là ngày thi chạy bộ đường trường Boston được tổ chức từ năm 1897 (The Boston Marathon). Đây là cuộc đua chạy đường trường lâu đời nhất tại Hoa Kỳ. Hơn một trăm năm qua, các lực sĩ chuyên nghiệp hay “lực sĩ tài tử” muốn tham dự cuộc đua này đã phải tốn nhiều công sức rèn luyện để đủ sức chạy xong đoạn đường dài hơn 26 dặm (26.2 miles) hay 42.195 km.
Cuộc thi chạy đường dài và ngày vinh danh tiền nhân yêu nước của người Hoa Kỳ có một tinh thần rất giống nhau: Đấy là lòng quả cảm và tính kiên trường. Những nhà cách mạng thời lập quốc Hoa Kỳ là những người can đảm và kiên trì. Họ can đảm không chỉ vì dám liều mạng chống lại quân đội hùng mạnh của thực dân Hoàng Gia Anh Quốc, nhưng họ can đảm vì sau cách mạng thành công, họ không lợi dụng chiến thắng để củng cố quyền lợi cá nhân hay đảng phái. Họ can đảm bỏ qua ích lợi cá nhân hay gia đình để qui tài năng vào việc chung: Việc tạo dựng nền dân chủ thật sự cho cả nước. Ai đã sinh sống tại Hoa Kỳ và học lịch sử dựng nước của xứ sở này có lẽ cũng đồng ý rằng ý niệm dân chủ phát xuất từ thượng cổ Cộng Hòa La Mã (the Roman Republic) đã thật sự được trưởng thành và hoàn thiện hơn tại Hoa Kỳ. Ngược lại những cuộc cách mạng Cộng Sản trong thế kỷ 20 là những cuộc cách mạng giả dối và tàn bạo. Các cuộc cách mạng Cộng Sản đã không mang lại tự do hạnh phúc thật cho dân chúng nhưng chỉ gây ra những khủng bố, đàn áp, kìm kẹp tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo, và tự do lập đoàn, hay hội họp của người dân. Công dân hay người tạm cư tại Hoa Kỳ đã từng sống ở những quốc gia khác mới hiểu và cảm nghiệm được ý nghĩa và kinh nghiệm Tự Do Dân Chủ của xứ sở này.
Nói dông dài về ý nghĩa của ngày Patriots’s Day và Boston Marathon để độc giả không sống ở Boston biết vài nét chính của ngày này. Người viết đã sống ở Boston từ cuối thập niên 80 và làm việc tại một đại học nằm ngay bên tuyến đường dài của cuộc đua đường trường này, nhưng chưa bao giờ tham dự như hàng chục ngàn người yêu chuộng thể thao đứng bên đường xem và cổ võ các lực sĩ đến từ khắp nơi trên thế giới để tham dự cuộc đua.
Tháng Tư ở Boston là những ngày mùa Xuân bắt đầu khởi sắc. Dân thành phố xôn xao chờ mùa bóng Côn Cầu-Base Ball khai mạc, môn thể thao quốc hồn quốc túy của người Mỹ. Dân ham mê môn bóng này tìm đủ cách để có vé xem trận đấu đầu tiên của đội nhà “The Red Sox” tại sân bóng nổi tiếng, Fenway Park. Ngày lễ hội Patriots’ Day và cuộc đua đường trường cũng là ngày đầu của tuần nghỉ mùa Xuân cho học sinh tiểu học và trung học Bang Massachusetts. Các công sở và đại học chỉ đóng cửa ngày thứ Hai để mừng lễ hội Patriots’ Day. Con gái tôi không về vì muốn ở lại đại học cùng lũ bạn dẫn nhau xem và cổ động cho các lực sĩ. Tôi và Uyên-Sa không có chương trình rõ rệt cho ngày lễ nghỉ, nhưng con trai nhỏ xin ra phố Harvard Square để đi tiệm sách The Coop Bookstore. Cả mùa Đông chúng tôi không ra Harvard Square la cà vì thời tiết, nên khi con trai xin đi cả hai đều chiều ý. Chúng tôi ngồi uống càfê đọc sách báo trong quán càfê nhỏ nằm trên lầu hai của tiệm sách chật chội không có cửa sổ nhìn ra ngoài. Gần 3 giờ chiều, đói bụng, con trai xin sang phố Tàu ăn cơm Á Châu.
Khi rời tiệm sách cũng là lúc bom nổ ở Boston, nhưng không theo dõi tin nên chúng tôi hoàn vô tư. Khách vãng lai quanh khu Harvard Square cũng không tỏ ra dấu hiệu gì đáng chú ý. Thường thì để sang phố Tàu từ Cambridge chúng tôi đi đường Memorial Drive, lên cầu băng ngang dòng sông Charles vào khu Kenmore Square và Boston University, rồi tạt sang phố Tàu từ đường Commonwealth, nhưng nghĩ cuộc đua vẫn còn nên đã vào phố Tàu từ Thông Lộ 90 hay Mass Turn Pike. Khi vào Mass Turn Pike chúng tôi thấy cả đoàn xe cảnh sát chạy ngược chiều và trực thăng bay ngay trên bầu trời trung tâm Boston, nhưng tôi nghĩ bụng có lẽ cảnh sát bảo vệ nhân vật quan trọng nào đó còn trực thăng thì thu hình tại điểm cuối của đường đua. Chúng tôi vẫn nghe tin qua đài NPR (Nationa Public Radio) mỗi khi lên xe, nhưng hôm ấy không theo dõi tin như thói quen. Vào phố Tàu theo ngõ vào trạm xe lửa South Station nên không thấy dấu hiệu gì khác lạ. Du khách vẫn qua lại, ra vào các tiệm ăn như chưa có gì xảy ra tại Boston. Tuy nhiên có một số người, từ trung tâm Boston, kéo vali đi một cách vội vã xuống cổng vào trạm xe điện ngầm phố Tàu. Bây giờ nghĩ lại mới hiểu tại sao. Thức ăn vừa được dọn ra bàn, tôi chưa kịp uống cạn ly bia đầu tiên lúc điện thoại cầm tay của tôi báo tin. Thấy số gọi không quen, định tắt ngay, nhưng không hiểu sao tôi vẫn mở nghe. Giọng con gái vừa khóc vừa nói “Bố, con đây! Điện thọai con không gọi được…” Nghe không rõ nên tôi ra ngoài tiệm ăn để hỏi con thêm.
“Điện thoại hư, sao con lại khóc?” Tôi hỏi rất vô tình.
“Không! Có hai quả bom nổ ở phố!” Con tôi vẫn còn khóc!!!!
“Con đang ở đâu?”
“Con về lại trường rồi! Và đang ở nhà bạn. Hệ thống Cell Phone bị cắt đứt nên con không dùng điện thoại của con được. Bố mẹ ở đâu? Con gọi về nhà không gặp.”
“Bố mẹ và em đang ở phố Tàu!”
“Con chỉ muốn bố mẹ biết là con OK thôi!”
Trở lại tiệm ăn trong trạng thái xúc động, tôi nói vội với Uyên-Sa, “Có bom nổ ở ngoài phố!”
“Con mình ở đâu?”
“Nhà bạn!”
“Anh gọi lại số con vừa gọi, lấy địa chỉ để mình đến thăm con ngay.”
Chúng tôi vội vã mua thức ăn mang đến cho con và bạn cháu. Đây là lần đầu tiên con tôi và bạn nó chứng kiến cảnh bom nổ và sự xáo trộn của thành phố. Dấu ấn “khủng bố” đã được đóng vĩnh viễn vào tâm hồn của con tôi và bạn cháu từ ngày hôm nay. Tôi đã tưởng chỉ đời mình mới bị dấu tích chiến tranh hằn sâu trong ký ức. Ai ngờ hôm nay, chính con mình lại phải chứng kiến hậu quả của “khủng bố” ở giữa một thành phố đã sống thanh bình hơn 200 năm qua.
Tôi gọi bạn tôi, người có cửa tiệm tạp hóa ở Phố Cổ Ý. Bạn cho biết có thêm vụ nổ nữa ở thư viện JFK.
“Boston đại nạn rồi ông ơi” Bạn tôi nói với giọng lo lắng.
Sau này mới biết vụ cháy ở thư viện cố tổng thống Kennedy bên cạnh Đại Học Massachusetts-Boston không liên quan đến vụ bom khủng bố ngoài phố.
Đúng 2:49 chiều ngày tưởng niệm những phát súng khởi nghĩa đầu tiên tại Hoa Kỳ 238 năm trước, trong khoảnh khắc, hai quả bom khủng bố nổ tung trên đường Boylston gần Quảng Trường Copley Square ngay trước điểm đích cùng của cuộc đua Boston Marathon. Cả Boston xôn xao nhưng không rối loạn. Cả nước Mỹ xôn xao nhưng không sợ hãi. Tin về số tử vong và thương vong được lập đi lập lại trên các hệ thống truyền thông. Hình ảnh lúc bom khủng bố nổ ở đoạn cuối đường đua cũng được chiếu lại nhiều lần trên các đài truyền hình. Các vị lãnh đạo chính quyền địa phương trấn an dân chúng bằng những lời lẽ rất chân tình và can đảm. Boston, nơi người dân phất cờ khởi nghĩa chống thực dân Anh đòi đập lập cũng vào ngày này, 238 năm trước (1775-2013), không chịu khuất phục bất cứ quyền lực hay bạo tàn khủng bố nào, sẽ phục sinh sau biến nạn khủng bố này. Đấy là ý chung của người dân và chính quyền. Tin sau cùng xác định, một em bé trai 8 tuổi, 2 thiếu nữ chưa hết tuổi 20, một cô người Mỹ cư dân vùng Boston, và một cô sinh viên từ Trung Hoa đã tử thương. Rất nhiều người bị thương tích nặng đến nỗi phải cưa chân. Những người khủng bố nghĩ gì? Họ nhân danh ai để làm điều dã man vậy? Biết đâu họ đã cầu nguyện với “Thần Linh” của họ trước khi giết người. Thượng Đế nào? Thiên Chúa nào? Thần Linh nào mà ác độc thế????
Buổi Cầu Nguyện Chữa Lành
Hoa Kỳ, cái nôi của Dân Chủ đại đồng, nền móng của văn minh khoa học kỹ thuật, cũng là nơi đức tin vào Thượng Đế được thấm nhuần và nảy nở từ thời lập quốc đến nay. Người dân Mỹ tin vào Thượng Đế nhiều hơn vào chính quyền. Và tự do dân chủ chỉ có thể phát triển và tồn tại trong một xã hội có đức tin vào Thượng Đế. Luật lệ quốc gia không đủ để kiểm soát hành động phạm pháp của người dân ở khắp nơi trong 24 giờ mỗi ngày. Nhưng niềm tin vào Thương Đế, giáo lý của tôn giáo giúp người dân kiểm soát hành vi của mình ở bất cứ lúc nào hay nơi nào. Trong xã hội độc tài vô thần như xã hội Cộng Sản, nhà nước phải dùng bạo lực để kiểm soát hành động và tư tưởng của người dân. Nhưng dù có kềm xiết, kiểm soát cách mấy, không có chế độ vô thần nào có thể kiểm soát nổi hành vi của người dân liên tục được. Giáo lý tôn giáo và đức tin vào Thượng Đế của Thiên Chúa Giáo đã giúp Hoa Kỳ phát triển và bảo tồn nền dân chủ đại đồng của họ hơn 200 năm qua. Cũng vì vậy, khi gặp hoạn nạn người dân Hoa Kỳ cầu nguyện với Thượng Đế cho được chữa lành. Ba ngày sau, thứ Năm ngày 18, tháng Tư, một buổi cầu nguyện chữa lành liên tôn giáo được tổ chức tại nhà thờ chính tòa Tổng Giáo Phận Công Giáo, Cathedral of the Holy Cross, nằm về phía nam của Boston, gần phố Tàu. Tổng Thống Hoa Kỳ, đương kim và các cựu Thống Đốc của Massachusetts, thị trưởng Boston, và cả ngàn người đã tham dự buổi cầu nguyện chữa lành cho vết thương khủng bố đã tàn phá thân xác của nhiều nạn nhân và gây khiếp loạn cho nhiều tâm hồn. Có người đã đến cửa nhà thờ từ bốn giờ sáng để mong có chỗ trong buổi cầu nguyện đặc biệt này. Vì có lớp buổi sáng nên tôi không đi dự được dù rất ao ước đến. Trên đường về nhà, theo dõi đài radio NPR nghe những lời cầu nguyện của các vị đại diện các tôn giáo lòng mình cũng tràn ngập niềm tin vào sự thiện và tình yêu nhân loại. Vị mục sư da đen của một nhà thờ Tin Lành lớn ở Boston nhắc về bài giảng trên núi của đức Giê Su trong kinh thánh Matthew (6:16-24). Tôi nghĩ vị mục sư này đã chọn đoạn Kinh Thánh rất ý nghĩa cho buổi cầu nguyện chữa lành này. Đức Giê-Su dạy tin mừng của hy vọng, “Phúc cho ai đang khóc lóc buồn khổ vì họ sẽ được ủi an vỗ về,” và “Phúc cho ai mang hòa bình cho người khác vì họ được coi như là con của Trời.” Con của Trời, con của Thiên Chúa hẳn phải là những vị Thánh. Chúng ta có thể trở thành những vị Thánh hay con của Trời nếu chúng ta mang hòa bình đến cho người xung quanh cho cộng đoàn, cho xã hội mình đang sinh sống. Lúc lái xe về, nghe tiếng đàn Đại-Vỹ-Cầm của thiên tài Yo Yo Ma trong buổi cầu nguyện mà lòng mình rưng rưng tan tác. Về tới nhà chương trình cầu nguyện vẫn còn nên tôi mở truyền hình theo dõi ngay. Giáo đường chật kín và mọi người dường như hết sức chăm chú nghiêm trang. Sau những lời cầu nguyện của các đại diện tôn giáo là phần phát biểu của đại diện chinh quyền và của Tổng Thống Hoa Kỳ, Obama. Thông điệp của tình yêu và hy vọng thay cho hận thù và tức giận là thông điệp chung của các lời cầu nguyện và phát biểu. Đúng vậy, chỉ có tình yêu và niềm tin mới mang lại hạnh phúc cho con người. Hồng Y O’Malley, vị lãnh đạo Công Giáo của vùng Boston và người trông coi nhà thờ Chính Tòa, đã tỏ ra thật khiêm nhường từ cách ăn mặc đến những lời phát biểu. Lần đầu tiên tôi thật sự cảm động trước cung cách khiêm nhường của vị giáo chủ này.
Thành Phố Nín Thở
Đêm thứ Năm ngay sau buổi lễ xin ơn chữa lành cảnh sát và các biệt đội an ninh đã chạm súng với hai tay nghi phạm khủng bố. Tôi dường như đã thức trắng đêm theo dõi tin về cuộc rượt bắt hai nghi phạm khủng bố từ Đại Học MIT chạy băng giòng sông Charles sang Watertown, một thành phố nằm trong vùng Boston. Lại thêm người chết oan. Lần này là anh cảnh sát trẻ để lại vợ và con thơ. Một nghi phạm tử thương còn người kia chạy trốn. Các lực lương an ninh đổ dồn bao vây phố Watertown và chính quyền ra lệnh giới nghiêm toàn thành phố và cả những thành phố lân cận. Các đại học và công sở nằm trong vùng săn nghi phạm đều bi giới nghiêm. Cả thành phố nín thở thu mình trong nhà chờ tin. Đến chiều tối, chính quyền ra lệnh bỏ giới nghiêm nhưng khuyến cáo dân chúng phải cực kỳ cảnh giác và ra đường trong tình trạng báo động. May quá, chỉ một thời gian ngắn, sau khi bãi lệnh giới nghiêm, nghi phạm thứ hai đã bị bắt. Thành phố thở phào dù vết thương “khủng bố” còn tươi trong trí nhớ của người dân và nhiều nạn nhân vẫn còn trong tình trạng hiểm nghèo. Dân chúng tự động kéo nhau ra đường tụ họp đông đảo để biểu dương tinh thần bất khuất và lòng yêu chuông tự do cố hữu của Hoa Kỳ.
Những Tấm Lòng Tử Tế
Ngay sau biến nạn khủng bố, báo chí và các cơ quan truyền thông đã tường thuật về những tấm lòng tử tể của người dân quanh vùng Boston đối với khách phương xa và nhất là những lực sĩ đến từ khắp nơi trên thế giới. Người mở cửa nhà mình đón khác lạ, kẻ sẵn sàng cung cấp phương tiện di chuyển cho khách đường xa bị kẹt lại Boston. Y như lời giảng trên núi của Đức Giê-Su hơn hai ngàn năm trước, “Phúc cho ai đang khóc lóc buồn khổ vì họ sẽ được ủi an vỗ về.” Anh bạn tôi kể, một người lính biệt phái về khu phố nơi anh có cửa tiệm đã vào tiệm định mua một hộp thuốc lá loại “nhai trầu,” giá 6 Đô nhưng không đủ tiền nên đành bỏ đi. Ngay lúc ấy, một người khách khác gọi anh lính lại rồi vội trả tiền hộp thuốc, dúi vào tay anh lính và xin anh nhận món quà rất chân tình. Người khách hàng muốn tỏ lòng biết ơn anh lính đến từ phương xa bảo vệ an ninh cho Boston dù món quà chẳng là bao. Khi người lính bỏ đi, bạn tôi vội vàng năn nỉ người khách hàng cho mình được chia sẽ lòng tử tế nên đã xin được trả lại người khách hàng nửa số tiền hộp thuốc. Bạn tôi bảo anh đã học được bài học tử tế đầy ý nghĩa từ một cử chỉ thật bất ngờ của khách hàng dành cho một người lạ mặt. Số tiền mua hộp thuốc chả là gì, nhưng tấm lòng người ta đối xử với nhau trong lúc khó khăn thật bao la vô giá. Tôi sực nhớ lại những tấm lòng tử tế của rất nhiều người lạ trên đường di tản và trên đường tị nạn năm xưa.
Tháng Tư Đạn Vẫn Còn Bay Ký Ức
Tháng Tư 2013, hai quả bom khủng bố nổ giữa lòng Boston, nhưng hình như đạn vẫn còn bay trong ký ức của đồng bào tôi và của chính tôi, những người tị nạn Cộng Sản tha hương. Chúng tôi đã sống ở xứ sở thanh bình tự do gần 4 thập niên rồi mà sao vẫn chưa tìm thấy bình an vẫn chưa tìm thấy tự do. Có người than phiền với tôi rằng, “Bây giờ mình phải ăn nói cẩn thận, giao tế cẩn thận, hay nghe nhạc trong xe cũng phải cẩn thận, kẻo bị chụp mũ là kẻ thù, là Việt Cộng đấy.” Tôi trả lời, “Ông phải hiểu được tâm lý đồng bào mình, vết thương hận thù khó chữa lành lắm. Vả lại những người mình chạy trốn năm xưa bây giờ vẫn hung bạo với đồng bào mình thì làm sao mà an tâm được.”
Chúng ta dĩ nhiên không nên xóa vùi, khỏa lấp, hay bóp méo lịch sử. Chuyện đã xảy ra, chúng ta phải nhớ phải bảo tồn để những thế hệ tương lai tránh lập lại những điều không tốt lành đã xẩy ra. Tuy nhiên, một việc mà cộng đồng Việt Nam tị nạn Cộng Sản nên làm và phải làm đó là không chỉ học tư tưởng Tự Do, nhưng còn phải thực hành, và phát triển tư tưởng tự do dân chủ qua cách cư xử và cách sống hàng ngày. Thí dụ như trong các buổi “nhậu nhẹt” thân hữu, ta đừng cố chấp hay gây gỗ với những người không đồng ý quan điểm cá nhân của ta. Trong các sinh họat tôn giáo và xã hội cũng vậy, đừng “chộp mũ” nhau, đừng phao tin đồn thất thiệt chỉ vì một cá nhân hay đoàn thể bất đồng “ý kiến” hay có cách sinh hoạt khác với ta. Chúng ta chỉ hưởng và sống đời tự do thật sự khi biết tôn trọng những sự khác biệt của người xung quanh.
Bên cạnh các cộng đồng người Việt tị nạn Cộng Sản ở Hoa Kỳ và khắp thế giới, có một thế hệ sinh viên du học từ Việt Nam đang học tập tại các đại học và cả trường trung học quanh nơi chúng ta cư ngụ và sinh hoạt. Một số lớn những người trẻ này sẽ về làm việc và giữ những địa vị quan trọng tại Việt Nam trong tương lai. Cách sinh họat dân chủ của các cộng đoàn Việt Nam tự do ở hải ngoại là những bài học rất thực tế cho những người trẻ này. Hãy ngưng ngay những đánh phá nhau bằng nghi ngờ bằng chụp mũ. Đừng đàn áp tư tưởng nhau như chính Đảng Cộng Sản đang đàn áp tư tưởng và tự do của người dân Việt Nam.
Tháng Tư, đạn vẫn còn bay trong ký ức tôi. Nhưng tình yêu và niềm tin sẽ giúp tôi tránh được những làn đạn của quá khứ.
TTM
Sunday, April 21, 2013
hãy nói chia tay khi chúng ta còn có thể
văn chương
PHẠM NGŨ YÊN
Nắng buổi chiều hờn dỗi trốn đi đâu mà
hơi ấm không còn trên mặt đường chiều nay. Lá cỏ tưởng chừng khát khao những lời
thầm thì của gió. Em trở về nơi chốn của riêng em, căn phòng có những điều huyễn
hoặc. Phố cũng vừa vắng thêm một người dù đó đây vẫn còn những cửa tiệm sáng
choang ánh đèn mời gọi khách hàng.
Biết em có còn ngồi sau tay lái và nhìn
lên hộp kiếng để săm soi lông mày khi dừng xe ở một ngã tư? Có những điều gì đó
còn thiếu sau lưng em khi anh ngồi đồng hàng bao giờ nơi quán cà phê quen, uống
mãi mà vẫn còn đầy nỗi buồn trong ly. Mùa đông này nghe chừng ít lạnh nhưng
trái tim buốt những đợi chờ.
Tôi không định nghĩa được tình yêu và đo
lường được bề dài của xa vắng. Người đàn ông vừa qua tuổi 50 có thể sẽ biết
nhói đau nhưng lại không biết làm sao để đứng lên khi té ngã. Cũng không biết hàn
gắn những tháng năm bên nhau làm thành một khối tình yêu tròn đầy.
Chuyến buýt cuối ngày qua lâu rồi. Đêm
luyến tiếc những vòng xe lên phố và những tiếng lục lạc khua vang từ chiếc xe
ngựa băng qua đường Congress. Tiếng chim cũng im bặt từ một ngày mưa.
Khi tôi quen nàng, tôi không kịp hỏi tuổi
nàng. Mãi đến sau này, tôi mới biết nàng nhỏ hơn tôi gần một con giáp. Mười một
năm chồng chất và đẩy tôi xa nàng như những cột mốc đẩy lùi những quận lỵ bên
đường.
- Những người đàn ông càng lớn tuổi càng
nhút nhát. Nàng nói.
- Anh cũng vậy thôi.
- Anh không giống họ. Nhưng anh hãy chịu
khó cười thêm một chút.
Nàng nói bằng mắt cười nhưng không mang
một ý nghĩa đùa cợt. “Không những nhút nhát thôi mà còn hay bỏ cuộc nửa chừng. Đúng
không?”
Tôi không nhớ tôi đã làm như vậy bao lần.
Nếu không nói lên một lời yêu đương trước mặt một người đàn bà thì tình yêu quả
có mất đi mùi vị đậm đà của nó.
- Nhưng tình yêu giống như một bông hoa.
Hương thơm có thể dài lâu nhưng cũng có thể bay đi vội vàng.
- Chuyện đó xưa rồi. Anh
nghe em nói đây. Chuyện này nghiêm chỉnh nhen. Hôm qua trong nhà thờ có người vừa
khen em…
- Điều đó không sai. Nhưng
người đó già hơn anh hay trẻ hơn anh?
- Trẻ hơn anh.
- Những lúc sau này thấy
em trang điểm hơi khác. Chuyện này làm anh lo lắng.
- Vậy sao anh không nói
ra?
- Đó cũng là một mặt khác
của sự nhút nhát như em nói. Điều này chứng tỏ rằng có người đang để ý đến em.
- Nhưng em nhớ anh nhiều lắm…
Nơi chúng tôi ngồi, có một
con đường nối liền với một đường rầy xe lửa. Người ta vừa khánh thành những
chuyến Metro tốc hành đi từ Downtown đến một quận lỵ khác, cũng nằm trong phạm
vi thành phố Austin. Lúc nàng nói, chuyến xe vừa đi qua. Tiếng xe cắt nghiến âm
thanh nàng hay cắt nghiến tâm hồn tôi, không rõ.
Mùa đông năm nay ít lạnh
hơn năm ngoái. Trên môi tôi gió luyến tiếc giữ lại một hương tóc. Tôi từng cảm nhận điều này khi đi
cùng nàng vào trong siêu thị.
Nàng chẳng từng nói với
tôi rằng nàng yêu tôi không vì lý do nào cả. Đơn giản là con người tôi toát ra
sự đau khổ dài hạn. Tôi cũng chẳng quan tâm và lo lắng nhiều đến nàng. Tôi có
những tật xấu (chính tôi đã từng thú nhận, còn gì?) Tôi cũng không nổi trội và
không là gì giữa đám đông. Nhưng nàng yêu tôi.
Thời gian này tôi thấy những
sợi tóc bạc mọc nhiều và nhanh hai bên thái dương. Sợi tóc của những đêm dài
thao thức.
Tôi nắm bàn tay nàng đang
hờ hững trên tay ghế. Bàn tay ấm thôi thúc một mùa đông lạc lòng tìm đến nhau.
Tôi quen nàng dễ chừng rất
lâu. Những chiếc lá rụng che lấp một bờ đường nhưng làm sao che lấp một cuộc
tình ngắn ngủi. Huống hồ tôi yêu nàng mười năm. Ở phía bên này năm tháng, nàng
trẻ trung còn tôi già nua. Nàng như chim hồn nhiên, còn tôi thấp thởm và nghèo
túng bên đời.
- Sao anh không đến nhà thờ
với em? Nếu anh không muốn người ta khen em?
- Như vậy là anh đi nhà thờ
là vì em chớ đâu phải vì Chúa?
- Sao cũng được.
- Anh không tin những gì Mục
Sư giảng. Họ giảng một đàng, làm một nẽo. Hãy để anh một mình với những thói
quen xưa.
- Anh vô thần.
- Anh sùng bái những ước lệ chân thành,
không sùng bái những điều dụ hoặc. Nhưng anh yêu em. Yêu mến đất nước này,
thành phố này kỳ lạ.
Thành phố giống như trái tim em trong trẻo,
dù đang những ngày mù mịt mưa. Tháng mười hai đông đúc những đời xe vội vã vượt
qua những lằn đường. Những chùm lá màu đỏ xanh giăng ngang trên mặt tiền các cửa
tiệm, trên những khung kính mê đắm, làm day dứt khách bộ hành. Một mùa lễ lạc trọng
đại đang hiện hình và một năm sẽ lướt thướt trôi qua. Còn tình yêu ở lại hay
cũng sắp bốc hơi?
Có một người đàn ông ngồi lặng yên hàng
giờ bên ly cà phê nhìn mông lung ra ngoài. Gọi trái tim quay về, lạc lối.
Có những trang sách ghi lại một tình yêu
chung, nhưng mỗi người đọc sai một nghĩa. Tôi tóc cháy sầu đau trong khi em môi
hồng vẫn thắm.
Tôi bắt đầu viết một truyện ngắn khác
không phải về mình mà cho gả con trai nhỏ hơn nàng gần mười tuổi. Như một định
mệnh xấu xí xen giữa tình yêu của hai chúng tôi. Tên của hắn là Bùi Thư. Nơi
nào đó chắc nàng sẽ nhớ đến một đêm bình yên có vầng trăng non chất đầy khát vọng.
Những thân phận lạ lùng khép kín trong
khi lời nguyền rũa gọi tên tình yêu. Nơi nào đó chắc nàng nhập vai một kẻ bạc
tình đi qua đường phố muôn màu với nụ cười xanh biếc.
Tôi biết ngoài kia tiếng gió vu vơ tạt
ngang nỗi buồn không thể nói lên thành lời. Ghi dấu mùa đông này nàng xa tôi.
Bùi Thư là người đã khen nàng trẻ trung
trong nhà thờ. Hắn cũng trẻ trung so với tuổi của nàng.
Hắn bị nàng hớp hồn khi đại diện cho Ban
trị sự đi thu tiền dâng hiến. Qua hàng ghế ngồi của nàng, hắn cảm giác được hơi
ấm từ bàn tay trau chuốt những ngón son im bặt. Những tờ giấy bạc không nói lên
sự thánh hóa nhưng nói lên sự trần tục, trong một nghĩa nào đó. Vì sau khi đi
thu tiền, trở về chỗ ngồi, hắn không còn nghe được lời giảng của người truyền đạo.
Ngày đó là một buổi sáng chủ nhật nắng ấm.
Nàng mặc một áo đầm màu đỏ hở cổ và chiếc áo khoác ngắn lưng chừng màu đen. Mái
tóc được cột lên cao phía sau bằng một sợi thun nên làm cho ngực nàng mở rộng
thêm và những bước chân của Bùi Thư cứ vấp mãi những nỗi buồn cũng dọc ngang
không kém.
Sau lễ, nàng ngồi chờ đứa con gái đang tập
hát trong ca đoàn. Gió mơn man sau vườn, nơi sân chơi của đám trẻ. Gió cũng hớn
hở trên ngực nàng. Bùi Thư đi qua chỗ nàng ngồi.
- Chào chị. Chị uống một cái gì nhen?
- Chị không khát.
- Em nhìn chị giống một người quen của
em, hồi còn ở Việt Nam.
- Người quen đó là bạn hay người thân?
- Là người yêu.
- Vậy em mường tượng chị là người yêu của
em chớ gì?
- Em không dám nghĩ vậy. Nhưng nếu không
thấy chị đi chung với Thư Hiền, em không biết chị đã là mẹ. Trông chị rất trẻ…
- Em tán khéo quá. Em bao nhiêu tuổi rồi?
- Em… ba mươi bảy …
- Chứ không phải… gần ba mươi lăm?
Bùi Thư đỏ mặt.
- Em mới chuyển về đây hay sao mà chị
không gặp? Nàng hỏi để làm bớt sự lúng túng của hắn.
- Câu đó đáng lẽ em dành cho chị. Em ở Hội
Thánh này nhiều năm. Nhưng mãi sau này mới biết chị.
- Chị ít đi nhà thờ.
- Vì sao?
- Không vì sao hết. Không đi vì phải đi
làm. Không đi cũng vì không tìm thấy bình an trong lòng.
- Như vậy, đáng lẽ chị càng nên đi.
Khi nói câu này, Bùi Thư đứng lên từ giã.
Tiếng sỏi chộn rộn dưới gót giầy nhắc nàng đến giờ phải rời khỏi đó. Chiếc áo
khoác màu bọt đô của Bùi Thư khi ẩn khi hiện giữa đám đông và mất hút nơi một
bãi đậu. Phía hai bờ héo hắt vạt xuân son, tiếng những buồn vui rượt đuổi theo
nhau làm chật chội những quá khứ. Nàng không nhớ rằng đã từ lâu không ai khen
mình son trẻ, từ ngày bị gẫy đỗ hạnh phúc. Một gả con trai biết nói năng đồng
thời cũng biết che đậy những cảm xúc. Nàng nghĩ về hắn về lần gặp thứ nhất như
vậy. Và kể cho tôi nghe về hắn bằng giọng sôi nổi không dấu diếm.
Khi tôi góp những khổ đau để hiểu trái
tim mình cũng là lúc mùa đông vàng phai trên từng gân lá nơi ngôi nhà đường
Heatherglen. Ngày xưa em nói với tôi là con đường có cái tên khó đọc. Nhưng nó
là hiện thân của đời sống anh. Nó đại diện cho anh. Tôi nói.
Đàng sau những cơn bão là tình yêu dại
khờ. Có đúng vậy không? Có những ngọn nến không cần phải thắp vì mắt ai đã là
ngọn lửa.
Sau những ngày xa tôi, nàng trở lại. Nỗi
nhớ làm đắng ngọt trên lưỡi tôi, khi hôn nàng. Chiếc khăn len quàng cổ luống cuống
không kịp rơi xuống nên vấn vương run rẩy. Có khi mùa đông là bối cảnh của lạnh
giá nên nàng đem hơi ấm về trả lại cho căn phòng. Có khi mùa đông là thịt da
ngào ngạt hương phấn.
Chưa gì tôi đã cảm nhận hương thể nàng trên
khứu giác và điều này làm tôi bồi hồi. Mái tóc nàng nghiêng nhưng vạt áo còn
nghiêng hơn. Nơi giữa khoảng trũng của hai bầu vú là sợi dây chuyền màu bạc,
kín khuất nửa mặt đá quý hình trái tim- Hình như bao giờ cũng vậy, cách thức
nàng hôn tôi cũng như cách thức nàng ruồng rẫy đều giống nhau.
Nàng kiêu kỳ dấu trong môi miệng một lời
trìu mến, trong khi tôi khổ sở chờ đợi tiếng nói nàng. Cuối cùng nàng cũng nói:
- Em nhớ anh nhiều lắm…
- Nhưng rồi em lại bỏ đi.
Nàng giơ tay vừa như muốn xua chận câu
nói của tôi, vừa muốn tháo bỏ một vướng bận. Cử động của nàng vô tình làm chạm
nhẹ chiếc bàn nhỏ nơi đầu giường. Nơi có chiếc đèn và cái chụp che sáng màu vôi
tường. Hai chiếc điện thoại của tôi và nàng nằm kề bên tập bản thảo. Có vài
trang giấy bị rơi xuống sàn phòng lát gỗ. Tựa như những tờ mộng bị rách lìa khỏi
ảo tưởng bình yên. Đó là những say đắm đêm ngày của tôi giống như cơn mưa không
chờ kịp bình minh đã tạnh. Nàng cúi xuống và nhặt lên.
- Anh đang viết gì vậy?
- Về một tình yêu mắc cạn. Về hai người
yêu nhau nhưng không thể quên được những ngày qua. Về nỗi đau của em từng lôi
cuốn anh…
- Lạ thật…
- Anh chưa biết kết thúc như thế nào và
bắt đầu từ đâu.
- Anh định đưa chuyện em lên báo chứ?
- Chắc vậy.
- Nhưng em phải đọc trước coi anh viết
như thế nào về em.
- Chắc phải tuyệt vời hơn những phụ nữ
khác.
- Cám ơn anh về những điều anh nghĩ về em.
- Anh cũng cám ơn em về những gì em đã
làm cho anh.
- Anh nói thêm cho em hiểu được không?
- Về điều gì?
- Nỗi đau mà anh nói đó.
- Nó lôi cuốn anh và làm anh cảm thấy
thôi thúc viết ra. Khi anh nghĩ về nó, thì
mọi sự đều tình cờ. Đôi lúc anh không biết
mình sẽ ra sao khi vài ba năm nữa không còn em đi chung trên một đường. Có khi
nào em hạnh phúc chưa?
- Hạnh phúc à? Sao anh lại hỏi em?
- Vì anh đang hạnh phúc.
- Mọi người bàn ra tán vào rất nhiều về
anh và em, nhưng em vẫn luôn cho rằng mình có một tình yêu đẹp và em đã từng rất
hạnh phúc khi có anh bên cạnh.
“Vì hạnh phúc của em ẩn chứa cả những nỗi
đau”. Giọng nàng trang nghiêm không ngờ. “Em chợt nhận ra rằng anh là người duy
nhất đang và đã từng làm em đau. Với anh, em chọn không chọn nhầm người.
- Nhiều khi anh tưởng rằng có thể buông
tay em dễ dàng. Nhưng không phải như vậy. Anh vẫn muốn níu kéo khi mọi chuyện kết
thúc.
- Em cũng vậy. Em dữ dằn lắm đừng coi thường
em.
Nàng nghe ngóng và chờ đợi trong khi những
ngón tay đánh thức một câm nín. Những khoắc khoải hay những hoài nghi vừa bỏ
đi, đã mơ hồ trở lại. Chiều bình thản và phố xá ngoài kia vừa âm vọng tiếng còi
xe cảnh sát vụt qua. Những cột điện thẳng tấp dưới lòng đường vừa lóe lên màu
sáng. Sương mù che hết tầm nhìn. Lời của ai vừa nũng nịu vừa có khả năng lấp đầy
những khoảng trống run rẩy. Tôi không hiểu giữa hai chúng tôi, ai đang là người
sa bại?
- Anh còn giận em?
- Không?
- Anh nói dối. Em có thể cảm nhận điều
đó qua cơ thể anh.
- Nếu em nói đã từng yêu anh. Thì em
cũng nên biết rằng quyết định phải rời xa em là khó khăn như thế nào?
Tình yêu của người đàn ông ngoài 50 dành
cho một người đàn bà ngoài 40, sao giống như một đời lá. Nó vừa đậu xuống an
lành trong bàn tay nhưng mầm xanh cũng vừa chết.
Những mùa đông từng tàn phai và cuối
cùng thức dậy dưới những môi hôn khát cháy. Trái tim cũng ngập tràn những dấu
răng bất ngờ tê điếng. Người đi qua đời nhau vừa mới mẻ vừa quen thuộc làm sao.
Từng miếng va vấp theo sau những lời tình hổn hển. Ngay cả trong giây phút này,
cả tôi và nàng đều cảm giác rằng có những nỗi buồn cũ xưa tưởng chừng làm cho
con người không thể đứng lên được, bỗng ào ạt thành những niềm vui và những yêu
thương mới.
- Anh đang nghĩ gì vậy?
- Về người con trai mà em vừa quen trong
nhà thờ.
- Một lần em gặp Bùi Thư trong quán cà
phê Starbuck’s, lúc đó em vừa mua vội ly cà phê và sắp ra xe để đi làm. Em hỏi:
“Sao em cứ tìm gặp chị hoài vậy?” Em hỏi Bùi Thư và nghe hắn trả lời tỉnh bơ:
“Em đâu có tìm gặp chị. Tiệm này gần khu vực nhà của em mà. Em lui tới thường
xuyên với nó nhiều hơn chị…”
Hắn làm em quê quá. Nhưng nhìn đôi mắt hắn
em biết hắn nghĩ gì… Hắn còn nói thêm: “Em và chị cùng chung một Hội Thánh,
chung một đức tin. Không có gì sai khi em muốn gần gũi và thân cận chị”. Anh
nghe ghê không?
- Cũng đúng. Tôi nói.
Nhưng là những buồn bã vô bờ.
Trong một nghĩa nào đó, thì ở cuối chân
mây là một lòng thuyền bị mất bến bờ. Nàng biết khóc cười với chính cuộc đời
nhưng không từng gian dối với trái tim. Tình yêu đối với nàng giản dị như vậy
nhưng sao tôi thấy đầy gai góc.
Trước khi đến nơi tôi ở, con đường nào
nàng đi qua chiều nay? Ngọn gió nào thổi mát phía sau em nhưng phía anh vẫn là
mùa đông rét mướt? Một người đàn bà càng
tỏ ra cứng rắn bao nhiêu lại càng yếu đuối bấy nhiêu. Tôi biết vậy và ngậm suy
nghĩ đó trong lòng.
Phía bên này là tháng năm. Tôi và nàng đang
ở hai đầu nỗi nhớ. Những tình nhân miên man biết về đâu để tìm lại khởi thủy của
tình yêu. Trong đó sự đau đớn mạnh hơn sự chết.
Tôi ngồi lên trong khi nàng quay lưng về
phía tôi. Bờ vai nhỏ nhắn hình như vừa thổn thức. Chai rượu trên đầu tủ chỉ với
tay là chạm đến. Màu rượu giống như màu máu long lanh nhưng chảy suốt cuộc đời
đắng ngọt. Tôi ực một hơi cạn ly và rót thêm một chút mời nàng.
- Em không uống. Không phải lúc nào em
cũng uống.
- Vậy anh uống thay cho em…
- Anh uống cho nhiều đi. Có tài liệu nói
rằng uống rượu nhiều sẽ liệt dương.
- Không cần rượu người ta cũng trở thành
liệt dương. Tôi cười. Những lo âu thường trú dài hạn trong lòng sẽ làm cho người
đàn ông trở nên như vậy.
- Anh lo âu chuyện gì?
- Giá mà rượu làm anh say và khi tỉnh dậy,
biết em vừa quên được một tình yêu bóng mây và một gả con trai nhỏ tuổi hơn
mình.
- Em không yêu ai ngoại trừ anh. Ngoại
trừ anh buông tay em dễ dàng.
Nàng quay mình, chồm lên và suýt chút nữa
tôi bị nàng sát thương. Những ngón gầy thiếu phụ một thời óng chuốt tình yêu bỗng
chốc chạm qua ranh giới hận thù?
Tôi ngã về phía sau tránh né nhưng không
chịu buông ly rượu trong tay. Thân thể nàng liêu xiêu gẫy ập xuống trên vai tôi.
Phong phanh vạt áo đêm không che hết những thịt da nồng nàn, những ngỏ ngách lạ
quen. Và khóc ngất.
Có bao nhiêu vết son in hình một làn môi
vút cong như gió mùa thổi qua lòng trống trải? Tôi không nhớ nhưng thương nàng
vô cùng.
Đêm mênh mông có tiếng gì rất lạ trên đầu
hồi, làm rách màu đêm lổ chổ ánh đèn khuya. Hình như đêm nay trăng cũng khóc ngoài kia. Không
có gì gọi là bình yên vì ngay cả biển dù hiền hòa cũng có lúc dập dồn sóng gió.
Nhưng nàng thì khác. Nàng hồn nhiên như một đứa trẻ trong khi tôi yếu lòng. Tiếng
khóc nàng mới đó đã mất biến như vừa trang trải xong một bi kịch.
- Em vừa thù hận anh vừa yêu mến anh. Tại
sao anh không chịu ra khỏi cuộc đời em?
- Vì anh chưa bộc lộ hết tình yêu của
anh dành cho em. Từ giờ trở đi, nếu em nói em muốn khóc, anh sẽ khóc thay em.
- Em sẽ không bao giờ nói. Để cho nước mắt
tự nó chảy ngược xuống trái tim.
Giọng nàng xoa xuýt như tiếng phong linh
trước nhà. Hay như tiếng chim vừa
đánh rơi một cọng mềm xuống tổ. Nàng không cần che dấu cảm xúc mình vì đêm
không còn bao lâu. Tôi nghe ngóng và bất lực trước tình yêu bao la cho đi và lấy
về, trên trùng điệp và u uẩn. Đêm dường như cộng lại những hạnh phúc chứ không
phải trừ ra. Giống như những đứa trẻ hồn nhiên giữa phút yếu lòng, không cần biết
những mong manh, mất còn, chúng tôi đã vội trượt ngã vào nhau, mơ hồ. Những khát
vọng còn thơm ngày hôm qua trở mình thành cơn gió đêm bay vào mênh mông. Làm
sao có nơi dừng chân. Làm sao có bắt đầu?
Nhưng cuối cùng thì đam mê cũng dừng lại.
Nàng đứng lên thản nhiên không che đậy đi qua một góc tường đang rì rầm tiếng
máy sưởi. Qua một chiếc sô pha hai chỗ ngồi và đứng ở cửa sổ nhìn ra. Cơ thể
nàng trắng nhòe nhoẹt nhìn từ sau giống như một nàng tiên cá vừa trồi lên khỏi
mặt đại dương. Mùi thơm toát ra từ thân thể nàng đậm đặc cùng rét mướt tháng mười
hai sao giống một hơi rượu làm hôn mê chết ngất. Nàng nhìn thấy gì bên ngoài?
Những hoang vu hay mịt mùng cỏ ướt? Những hàng cây câm lặng hay mới vừa lao
xao? Chỉ trong một phút chốc, mà tôi thấy tôi già nhiều năm. “Chúng ta chia tay
nhen?”
Nàng nói mà không nhìn lui. Nhưng âm
thanh rõ ràng từ tốn. “Hãy nói chia tay khi chúng ta còn có thể”.
- Nhưng chúng ta mới vừa gặp lại nhau
mà…
- Em muốn về Việt Nam một thời gian…
- Thật lạ lùng. Tôi vói tay rót thêm một
phần rượu khác. “Mới đây thôi anh tưởng mình như một sân ga. Em là con tàu dừng
lại. Con tàu nghỉ ngơi và chỉnh đốn lại máy móc mệt lã. Đột nhiên con tàu chẳng
giận mà đi.
- Anh không vui khi biết em về thăm gia
đình?
- Không.
- Em chỉ đi vài tháng thôi mà.
- Vậy thì em hãy đi. Nhưng hãy quay về
khi em cần một ai đó.
- Không biết em có đáng cho anh chờ
không?
Tôi nhắm mắt và cố hình dung khuôn dáng
nàng. Người đàn bà từng làm tôi say đắm một thời gian dài. Vẫn đôi mắt thắm xa màu
chiều và đôi môi ào ạt màu phượng. Giờ đây tiếng nói nàng bên tai như một tiếng
đời phán xét.
- Chia tay không phải là hết yêu mà vì
đã yêu nhau đủ rồi. Em nhận ra điều này là không hẳn mình yêu nhau là cứ ở gần bên nhau. Và chia
tay không có nghĩa là ngừng yêu thương.
- Em nói còn hay hơn anh viết.
Giọng nàng vẫn đều đều. Làm như không
nghe tôi cay đắng.
- Có thể mình ít thấy nhau thường xuyên,
nhưng trong lòng vẫn quan tâm cho nhau.
Có một lúc, tôi cảm nhận những ngón ẻo lả
đài các của nàng đang mơn man hai bên thái dương- nơi những sợi tóc vừa đổi màu.
“Anh chẳng từng nói với em rằng em sẽ phải
tự mình vượt qua để trưởng thành. Và những lúc không có anh em vẫn sống tốt,
cho dù có khi em gục ngã, em sẽ tự mình biết đứng dậy thế nào”.
Nàng dừng lời và đặt trên trán tôi một nụ
hôn. Dè dặt và êm đềm nhưng lòng tôi chao nghiêng quá đỗi. Hãy cứ bình tâm như
thể chuyện buồn vui là chuyện của đất trời và những tình nhân không hề mỏi chân
để bước qua những cơn say hào nhoáng. Hãy chờ nghe những bước chân mưa đời sẽ
xóa nhòa những đau đớn, những bội phản.
Giữa ngực nhau, tôi ham muốn nàng trở lại.
Trong cái rét mướt của đêm sắp sang ngày, tôi dấu môi tôi trong tóc nàng. Những
buồn run hối hả.
Những trang bản thảo nằm trơ trên mặt
bàn. Từ một tuần lễ nay mưa cứ miệt mài qua phố.
Tôi không viết được vì nàng không trở về
từ cái hôm mà ngọn gió đêm đi qua miền dâu bể. Nơi những buồn vui thân phận chụp
xuống đời ngã nghiêng.
Cơn say cũ ướt mèm gối đầu lên những đợi
chờ. Hạnh phúc thầm thì những lời lạc giọng. Vuông phòng nhỏ nhoi như hộp kẹo
mùa Giáng Sinh cứ mỗi buổi sáng chiếc rèm che được vén ra. Người đàn ông già ngồi
nôn nao nhớ biển.
Những con đường chạy song song ôm chặt
thành phố trong lòng giống như trong chuyện cổ tích. Nơi có tình yêu và những
tâm hồn đuổi theo nhau nhưng mất dấu nhau. Ở đàng sau những cánh cửa vừa chạm
vào đã khép là rừng chiều không có bình minh. Những thửa đất vừa ươm mầm đã
úng.
Một buổi chiều tôi lái xe qua nhà thờ. Bãi
đậu xe vắng chỉ có vài chiếc xe đậu trong màu chiều tàn phai. Hành lang chật và
lượm thượm những đồ đạt không kịp thu dọn sau một mùa lễ. Tôi đậu xe và đến ngồi
ở một băng ghế gần sân chơi. Nơi mà có lẽ một buổi sáng nào nàng đã ngồi và Bùi
Thư đến bên nàng mời nước. ”Chị uống một cái gì nhen…” Tôi nghe rõ từng lời như
tiếng nói vẫn còn đọng lại trong không khí đặc quánh. “Nếu không thấy chị đi
chung với Thư Hiền em không biết chị đã là mẹ. Trông chị rất trẻ…”
Có lẽ nào nàng vội quên tôi vì có người
vừa khen nàng? Nếu như vậy thì nỗi đau là điều luôn có thực giữa khi hạnh phúc
đang nắn nót những lời tình mơn trớn nhất. Tôi mơ màng ngồi dựa lưng vào băng ghế
và nghe đêm đến chầm chậm. Có nỗi nhớ nghe quen thuộc đâu đây hiện về lãng đãng.
Bàn tay tôi tình cờ cộm trên một vật gì của ai bỏ quên. Tôi cầm trong tay và
nhìn rõ là một con dao nhỏ dùng để rọc thùng cạt tông- một con dao dành cho những
người làm việc trong Warehouse. Nó giống như một món đồ chơi của trẻ em bị sứt
sẹo vì sử dụng lâu ngày. Tôi đùa nghịch nó giây lát trong bàn tay và định bỏ xuống
lại, đi về. Nhưng định mệnh cũng ùa đến, như đêm ùa đến, lạnh lùng.
Một vệt đèn sáng lên giữa hành lang nối
liền phòng cầu nguyện và phòng ăn. Một bóng người hiện ra sau một khung cửa.
Tôi đoán là Bùi Thư vì màu bọt đô của chiếc áo khoác mọc trên người. Có lẽ hắn
vào dọn dẹp ngày cuối tuần hoặc tình cờ ghé qua như tôi. Tôi ngồi bên ngoài
trong bóng tối nên hắn không thấy tôi. Mãi đến khi hắn vượt ngang chỗ tôi ngồi,
mới thấy.
- Hi. Bùi Thư giật mình chào.
- Hi. Tôi đáp. Tôi qua đây tình cờ, thấy
có bảng nhà thờ Việt Nam nên ghé vào giây lát.
- Chú là tín hữu? Bùi Thư bình tỉnh trở
lại.
- Không. Tôi là người ngoại đạo.
- Chủ nhật mời chú đến nhà thờ chơi, nếu
chú rảnh.
- Cám ơn. Tôi ao ước tìm thấy bình an
trong lòng, nhưng vô vọng.
- Vậy chú càng nên ghé đến đây. Chú sẽ
thấy bình an hơn.
- Cậu nghĩ vậy sao?
- Cháu nghĩ vậy…
Có những điều dù rất quen, nhưng lại lạ.
Và ngược lại. Tôi nhìn xuống chiếc bóng mờ nhạt của mình và bóng của Bùi Thư
bên cạnh. Tôi chẳng từng nghĩ về người đàn ông đó, từ nhiều tháng nay, bây giờ
tôi đang đứng cạnh hắn? Tôi chưa bao giờ thấy mình bình tỉnh như lúc này. Con
dao dùng để rọc thùng giấy được hướng lưỡi về phía bụng dưới của gả đàn ông
đang mải miết bước đi. Những bước chân dưới đèn đẹp như khiêu vũ. Vết đâm của
tôi cũng vậy. Ngọt và sâu như được điều khiển từ một tay chơi ngoại hạng. Không
kịp kêu lên một tiếng, Bùi Thư ôm bụng ngồi xuống…
Điều đó có nghĩa là câu chuyện đã có đoạn
kết.
Có những toa tàu muộn không về được tới
bến. Cho nên không cần những sân ga. Không cần những tình yêu dại khờ thả buồn
vui theo gió. Con đường qua nhà nàng sáng nay có tiếng chim kêu rất lạ. Sự bình
an trong tôi cũng giống như tiếng chim vừa hót lên đã âu sầu bay đi. Chỉ có
tình yêu của tôi dành cho nàng là có thực.
Mùa xuân này tôi ra bưu điện gởi cho
nàng tờ báo chợ địa phương, có loan tin một vụ giết người trong khuôn viên nhà
thờ Tin Lành. Vụ án còn trong vòng điều tra vì chưa tìm ra thủ phạm. Nàng đang ở
Việt Nam.
PNY
Friday, April 19, 2013
Với Người Một Thuở…
Cư-An *
…
Và có phải… mãi còn trong tâm tưởng?
Khi
ta.. với người …nửa đoạn đời xa.
Ta
vẫn lặng thầm trên từng bước chân qua
Tay
se chỉ giở từng trang sách cũ….
Tuổi
hai mươi tổ quốc gọi lên đường
Áo
thư sinh bỏ lại những mùa thương
Chân
rón rén… thư trao … ngoài cửa lớp…
Ta
bé nhỏ bên hiên trường im khuất
Thơ
học trò viết mãi chuyên yêu nhau
Chiều
Văn Khoa…tay nhòe mực, cúi đầu
Mưa
vẫn bay nghiêng trên hàng phượng vĩ…
Vang
rừng chồi xanh ngắt bước quân ca..
Dây
tử thần… như tráng sĩ Kinh Kha
Kiêu
dũng lắm, đường chiến binh gian khổ!
Nung
chí trai nơi thao trường nắng gió
Quyết
một ngày về nối dãi non sông
Đồi
Mẹ Bồng Con ôm ấp trong lòng
Gươm
súng khắc ghi lời thề son sắt
Bình
Thủy, Năm Căn, đăc khu Rừng Sát…
Ánh
mắt theo người khắp nẻo di quân..
Và
lênh đênh khi vận nước xoay vần
Tuổi
trẻ tang thương, thiên đường đóng cửa!
Màu
Cư-An, trường Thủ Đức còn đâu?
Nên
tiếng thơ ta vẫn mãi giăng sầu
Người
đã rất xa… bỗng về trong nỗi nhớ…
M.H. HOÀI
LINH PHƯƠNG
Washington
D.C tháng 04/2013.
* Cư-AnTư-Nguy: tôn chỉ trên phù
hiệu của các S.V.S.Q xuất thân từ trường Bộ-Binh Thủ-Đức V.N.C.H
Friday, April 12, 2013
TRẮNG
ĐẾN KHI ÚA TÀN
Thụyvi
Cái chết của bà cựu thủ tướng Anh quốc đã khiến giới truyền thông báo chí sôi sục mấy hôm nay.
Dĩ nhiên người ta lật lại hết những đoạn đời của bà.
Nhất là những đoạn đời mà thế giới đã gán cho bà biệt danh “The Iron Lady “ đáng hãnh diện không người đàn bà nào có được.
Tôi cũng bắt chước nhiều người bằng cách chăm chú nhìn lại, ngắm lại một phụ nữ lừng danh trên chính trường.
Bỗng dưng tôi nhớ đến bà Hillary Clinton, cưụ Ngoại trưởng nước Mỹ của tôi.
Tôi thấy hai bà, người nào cũng tài giỏi, cứng cỏi, đầy tham vọng chính trị và đam mê quyền lực.
Bà nào cũng đầy bản lảnh ứng xử trong cuộc sống hôn nhân gia đình.
Bà nào cũng đẹp.
Là loại “đàn bà dễ có mấy tay”.
Nhưng tôi không nhìn để thú vị so sánh ở khía cạnh này.
Tôi muốn nói,
Bà Thatchers như đoá hoa trắng, trắng đến khi úa tàn.
Còn bà ngoại trưởng nước Mỹ của tôi.
Mỗi ngày mỗi xộc xệch, cẩu thả…
Hỏi có chán không chứ!
. thụyvi
( Hầm Nắng, 12/ 4/ 2013 )
Subscribe to:
Posts (Atom)




