Sunday, September 23, 2012

tháng tư hồi tưởng

phạm ngũ yên

1.

Tôi ngồi trong một quán cà phê mới, nơi góc đường Lavaca và đường số 2. Quán nằm trong khu vực City Hall. Mùa xuân đang chảy những dòng nắng như mật trên đường. Những tòa buynh đinh vuông vứt màu gạch nhìn xuống mặt lộ phẳng phiu. Hàng đoàn xe lợi dụng ngày cuối tuần đậu chật kín khu đậu xe có đặt đồng hồ tình tiền. Vài đôi tình nhân đi tản bộ dưới hàng anh đào non không còn ra hoa. Trong một cửa hàng bán quần áo đặc biệt, những người mẫu bằng thạch cao trắng muốt khép nép nhìn ra những bước chân xô giạt trên dòng đời. Mọi thứ, dù không ồn ào, nhưng rực rỡ. Mọi thứ đã như một ngọn lửa, cháy liều lĩnh trong lòng người đàn ông già, mới ngày nào còn thản nhiên giác đấu với mọi nghịch cảnh. Nhưng nay đã nghe thắm mệt, rã rời.

Không ít lâu nửa chiều sẽ xuống. Phố xá sẽ châm đèn. Chiếc quán tôi đang ngồi cũng vừa mở công tắc để những chụp đèn sáng lên. Mới tuần rồi, hơi lạnh còn làm co ro những khách bộ hành, cùng ly cà phê sớm nguội vội vàng trên môi. Ðôi mắt sẽ long lanh tình tứ hơn khi nàng cười và như vậy ngày đã cuốn theo những niềm riêng không thể nói lên thành lời.

Có những điều không làm sao hiểu được nếu họ không nói ra. Nhưng hạnh phúc không phải vì vậy mà tan biến trong buổi chiều nay. Khung cảnh tình tứ đến nỗi tôi quên uống phần cà phê của mình. Còn nàng, giống như một con chim sẻ đang mải mê nhìn người qua lại. Mái tóc không còn rối bời bởi gió giờ được vén cao sau gáy, để lộ ngấn cổ trắng và bờ vai phiêu hốt. Chiếc rubent màu vàng chanh trên đầu. Mọi thứ dường như chỉ làm tăng thêm sự quyến rũ của nàng. Có một thời nàng hồn nhiên như chim, và tôi giống như cây đứng bên đường nhìn nàng đi qua vậy. Tôi có phải là giấc mơ trong lòng nàng hay không, tôi không biết.

Tôi yêu nàng, sâu đậm. Tháng tư có hoa bluebonnet nở rộ hai bên đường xa lộ. Nhưng ở Downtown thì hiếm hoi. Người ta đi dưới nắng như lá xanh. Xe cộ nối đuôi nhau vuợt qua từng stop signe. Buổi chiều yên ả như một dòng nhạc. Và tôi cảm giác được tiếng nói nàng trong veo như một giọt nắng. Cũng đôi lúc giọng nàng nũng nịu trìu mến theo một vài suy nghĩ mơ hồ. Ngày bình yên trôi qua như vậy. Tình yêu của tôi dành cho nàng cũng bình yên không dấu một chút nào bão tố.

Làm sao để một giấc mơ luôn thơm ngát mùi vị tuổi thơ khi tôi không còn thanh xuân. Làm sao để tình yêu không mất dấu nhau trong khi con đường chia hai và đôi lúc nàng muốn đi về nơi khác.

Một lần tôi nói tôi với nàng rằng tôi không thể để hình ảnh nàng ra ngoài trái tim tôi, dù bao nhiêu biển dâu vùi lấp. Nàng không tin. Niềm vui luôn chứa chan trong lòng nàng đến nổi nàng không hình dung ra cuộc đời này sẽ ra sao nếu không cùng có nhau bên cạnh. Nhiều buổi sáng tôi lái xe đi qua những ồn ào xuôi ngược, nhưng vẫn thấy phố xá lạnh lùng. Tôi nhớ dáng nàng bươn chải vượt lên một hành lang hẹp để đi vào tiệm nail ở miền South, nơi mà mỗi ngày nàng phải có mặt. Ðến đuôi tóc sau cổ nàng được cột bằng một sợi dây thun cho mát và những ngón chân trau chuốt nhiều màu son. Mỗi màu son là một nỗi niềm.

Mùa xuân đến và sẽ đi. Màu hoa Bluebonnet tím xanh cười cợt với gió. Trong hơi thở của thời gian khẻ khàng tôi nhớ lại một màu hoa cũng có màu như vậy. Tất cả đều xa rồi.

Những chuyện năm xưa cứ ùa về làm xúc động. Hôm nay chiều xuống trên thành phố tươi màu hạnh phúc, dù thời gian đang là tháng tư. Những cây tử đinh hương nằm ngỡ ngàng bên một thềm đường, tiếng chim cu đất rụng xuống như một lời ca sai nhịp. Trong lòng tôi đang chật chội một ngăn buồn.

Phía sau nhà Capitol, thấp thoáng rừng cây trùng điệp dẫn vào một vùng đồi. Nhà cửa mới cất mọc lên như nấm sau cơn mưa. Những bảng hiệu mời gọi cho mượn nợ cấm chênh vênh trên cỏ, ghi nhận một thời kinh tế vươn mình.

2.

Lúc nào cũng vậy, khi tiếng chim cu kêu từng hồi trước sân nhà, luôn gợi tôi nhớ lại thành phố cũ, một tháng tư rã rời. Ngày đó tôi vừa ba mươi mốt tuổi. Ngày đó tôi vừa đụng tới một oan nghiệt tưởng chừng như chỉ có trong truyền thuyết.

Có những lúc tôi không muốn nhớ vì ngại phải đụng tới một vết thương. Nhưng rồi tôi vẫn phải nhớ, giống như một người đi một mình với chiếc bóng đàng sau, nỗi nhớ va vào nhau sóng soài. Cùng với tiếng vòng xích xe tăng khô khốc làm trầy trụa mặt đường. Như đường cày trên thịt da con gái.

Ở một nơi nào đó, mưa bất chợt bay về. Ghé ngang qua thành phố biển của tôi. Ghé ngang qua những lầu cao đang giăng đầy biểu ngữ. Màu đỏ nhức nhối phô trương hết mọi kiêu căng, hợm hỉnh. Người ta chỉ có thể biết rõ một chế độ, một khi phải đối diện và sống trong chế độ đó. Mưới sáu năm dài tôi sống trong lòng Cộng sản, sau khi miền Nam hoàn toàn sụp đổ. Từ năm 1975 đến 1991. Biết nói thế nào là ngắn ngủi hay đầy đủ về một bất hạnh? Về những đau thương chín đỏ trên nhánh cây sầu.

Ba mươi mốt tuổi tôi mới vừa trưởng thành và mới vừa nếm thử men ruợu sống. Nhưng oan nghiệt đã xối xả rụng xuống. Tôi mới vừa giải ngũ về. Mười năm lính tráng chưa kịp bạc màu áo treilli và môi vẫn chưa khô vì nắng gió. Nhưng trong một nghĩa nào đó, con sói đã rưng rưng thiếu vắng một góc rừng.

Buổi sáng ngày 30 tháng tư năm 1975, từ ngả ba Tam Hiệp tôi cùng đám đông đi bộ về Sàigòn. Vừa đi tôi vừa quan sát cảnh vật hai bên xa lộ. Nắng không chói chan nhưng vẫn đủ làm cho mọi người mệt mõi. Từ sáng sớm, đoàn người đã lũ lượt lên đường, bỏ lại những nhà cửa cơ ngơi, những ruộng vườn, hi vọng một thời gian sau sẽ về lại. Người đi như lá xanh và kéo dài như một con rắn khổng lồ không nhìn thấy đuôi. Vài đoạn cầu bị tắt nghẽn vì sụp đổ đêm qua, khiến cho chuyến đi càng dài thêm trên thời gian mênh mông. Các cơ quan thiện nguyện của chính phủ Cộng Hòa cho người phân phát nước uống và thực phẫm khô đến mọi người để hóa giải phần nào nỗi cơ cực dọc đường.

Tâm hồn tôi ráo hoảnh một góc đời. Không cảm nhận được vui hay buồn trong lúc này. Chỉ có một sự trống vắng vì vừa mất một khung cảnh quen thuộc. Những năm tháng buồn vui trong đời quân ngũ. Những gác trọ và những mối tình qua đường.

Mới tháng rồi tôi còn ở Ðà lạt với gia đình người bạn thân. Sương mù buổi sáng bay qua cừa sổ nhìn ra vườn. Sương mù cũng bay cả vào chiếu chăn để ủ vào lòng tôi những thanh xuân mới mẻ. Tôi yêu một đời sống sẽ không còn vướng bận vì quân vụ. Mỗi ngày sẽ không còn nghe tiếng kẻng gọi tập hợp và quần áo chỉnh tề. Sẽ không còn bận tâm vì phiên trực trong hầm lô cốt, bên cạnh những bạn bè đồng ngũ. Giấc ngủ sẽ không bị ngắt quảng nhiều lần trong đêm vì tiếng đạn bắn đi từ vùng địch. Mọi thứ, có vẽ như lùi xa. Tình yêu cũng vậy.

Khi tôi giải ngũ về, tôi không kịp từ giả một ai trong số những người con gái tôi quen biết. Không chắc họ còn nhớ đến tôi.

Tôi có đi trở lại vài con đường ngày xưa tôi đã có lần cùng đi với họ. Có một vài cảnh vật làm tôi thổn thức và buồn rầu. Nhưng tôi nghĩ rằng tôi sẽ vượt qua. Không phải mọi tình yêu đều chóng tan như bong bóng xà phòng. Cũng không phải vì ngăn sông cách núi. Nhưng bởi vì có nhiều điều mới mẻ đang đâm chồi trong trái tim mà lý trí không thể đụng tới. Tôi nghĩ tôi có thể làm lại từ đầu và bắt đầu bằng con số không.

Những người đàn bà đi qua đời một người đàn ông đều không thích để lại dấu vết. Nhưng làm sao xóa được hết những buồn đau đang nép vào nhau như lá? Giống như mọi cơn địa chấn, luôn để lại những thiệt hại nơi nào trên mặt đất khi nó vừa đi qua.

Một vài quán cà phê quen tôi vào ngồi để hình dung một cuộc tình phờ phạc. Trong đó có tôi và nàng đang giẫy giụa và mắc cạn trong ao đời hạn hẹp. Trong đó tôi và nàng vừa trao hôn nhưng đã nghe thấp thoáng lời phân ly. Trên phố xá rưng rưng những đèn khuya bên ngoài, có vì sao nào là đôi mắt nhìn tôi như khóc?

3.

Ðoàn người di tản đi đến khu vực Xi Măng Hà Tiên thì nghe tin Dương Văn Minh kêu gọi đầu hàng. Lúc đó khoảng 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4. Mọi người bàng hoàng và ngơ ngác tưởng mình nghe lầm. Tin tức lập lại nhiều lần trên máy phát thanh do một vài người di tản mang theo. Ðám đông đều khựng lại không tiến về phía trước. Có nơi nào để dừng lại trong khi dòng sông đục ngầu phù sa chảy mãi ra biển lớn kinh hoàng? Nó đang ngấu nghiến trong lòng nó những xác lá thoi thóp vì mơ ước đang tàn. Sàigòn không còn là nơi định cư cuối cùng thì nơi nào cũng vậy thôi. Một vài gia đình tan hàng và tìm cách quay trở lại. Một vài nhóm thì tấp vào dọc xa lộ, nơi có nhà cửa dân cư đông đúc để nghe ngóng tình hình.

Khoảng giữa trưa, có tiếng xe chạy rầm rì ngoài xa lộ. Mọi người đứng xem hai bên đường. Những chiếc xe có tên là Morotola chở bộ đội chạy vào thành phố. Những chiếc T. 54 ngụy trang lá cây rừng và súng ống hòm sẳn chờ đợi bất trắc. Những vòng xích hung bạo đầy đất đỏ xô nghiến mặt đường thơ dại. Tất cả đều xuất xứ từ Liên Xô, Trung Cộng, Tiệp Khắc. Chỉ có con người ngồi trên đó là Việt Nam. Họ vừa ngơ ngác, vừa ngạo nghễ nhìn xuống đám đông bên đường, lúc này bỗng lác đác vài người mang băng đỏ trên tay... Họ hiện ra không biết từ lúc nào, lạ lùng và đột ngột như từ dưới đất chui lên.

Tôi sững sờ và gần như không muốn tin vào những gì mình thấy. Sàigòn im ắng phía xa. Không một dáng vẻ gì là Sàigòn đang đổi chủ. Những cột khói từ vài nhà máy lơ đảng bay lên trời. Như khói thuốc. Tôi quyết định đón xe lam chạy về Sàigòn...

Ðêm đó, tôi ngủ ở Bàn Cờ. Căn nhà chìm sâu trong con đường Nguyễn Thiện Thuật nhìn ra quán cà phê Năm Dưỡng.

Ðêm thao thức một mình, trong căn nhà của Nguyễn Hải Ðông, người bạn ngày xưa đã từng cho tôi ở trọ. Ðông kẹt ở Cần Thơ chưa về kịp. Nhà chỉ còn bà cụ và hai cô em gái của Ðông. Tôi ngủ trên gác lừng. Trên gác ngoài cùng có một lan can bàng gỗ rộng đủ kê vừa một chiếc ghế bố nhà binh. Tôi ngủ trên đó. Gió thổi trên nóc mùng nhà binh như xua đuổi mộng mị. Gió cũng xô giạt trên mái tôn. Gần sáng, tôi trèo xuống sau khi đánh răng rửa mặt, tôi nói với bà cụ tôi xuống đường uống cà phê và nghe ngóng tin tức.

Quán đông khách dù chỉ mới ba giờ sáng. Người ta nhìn thấy trong mắt nhau những băn khoăn rối bời. Âm vọng của lời nói chìm thấp hơn mọi lần. Ngoại trừ tiếng kêu gọi pha chế của gã bồi bàn vọng vào trong bếp còn nghe rõ ràng. Tiếng động hè phố hình như cũng lắng xuống. Lâu lâu có vài chiếc xe chạy qua, chiếc ống bô ho khan để lại vài bụm khói màu tro tức tửi.

Có thể đó là lần cuối tôi uống cà phê ở quán Năm Dưỡng. Những ly cà phê sau này tôi uống nhiều nơi khác nhau trong suốt mười sáu năm, nhưng tôi sẽ nhớ vô cùng cái hương vị ngầy ngật, tan hoang sau một cuộc đổi đời. Nó không giống cái hương vị riêng tư của một quán cà phê hàng đầu của Sàigòn về sáng. Nó trộn lẫn một chút chua xót của ngày và một chút ngọt ngào của đêm. Nó cũng vừa có chung chất kích thích của đau khổ hôm nay và ngày mai hi vọng. Ðể cuối cùng vĩnh viển rơi xuống đáy ly niềm tuyệt vọng của 75 triệu con người.

4.

Nguyễn Hải Ðông chết trên đường vượt biên sau này. Ngày còn là học sinh trường Pétrus Ký và sau này là sinh viên Ðại Học Vạn Hạnh, Ðông luôn yêu mến tôi. Tôi cũng yêu mến Ðông, dù tuổi tác chênh lệch chút đỉnh. Tôi có những ngày tháng tuyệt vời trong gia đình Ðông, khi tôi từ Ðà Lạt về phép Sàigòn. Lúc đó bà cụ đang mở tiệm giặt ủi mang tên Như Ý. Dưới ngọn đèn néon 6 tấc những bửa cơm thân tình được nấu nướng theo lối Bắc- (vì bà cụ là dân Bắc Kỳ di cư)- Thu và Cúc xới cơm cho tôi. Những câu chuyện mở ra trong tiếng cười khúc khích của hai cô gái. Những truyện ngắn tôi viết đăng báo Sàigòn cũng dưới ánh đèn này. Tôi không biết một trong hai cô gái người nào dành cho tôi cảm tình nhiều hơn, nhưng tôi sẽ ân hận nếu không viết ra điều này.

Ngày đó tôi còn trẻ trung để không nghĩ đến chuyện ràng buộc một bến đời. Sự thuyên chuyển đơn vị thường xuyên cũng là một phần làm tôi ngại ngần bộc lộ tình cảm- một phần khác tôi coi Thu và Cúc giống như em gái của tôi. Ngày đó tôi cũng không nghĩ đến chuyện lập gia đình về sống ở Sàigòn. Tôi thích cái không khi khoáng đạt của cao nguyên và núi rừng. Không thích bụi bậm.

Tình yêu có những điều huyễn hoặc và kỳ lạ. Nhiều lúc như mưa bão, nhiều lúc tạnh khô. Những người tình đi qua lòng tôi một sớm mai sẽ ủ chật mù sương và mưa bụi. Tôi san sẽ lòng tôi với lá xanh và hồn hoa đậu xuống. Tôi chỉ yêu Sàigòn thật nhiều khi đã không còn Sài Gòn trong đời.

Năm 1991 tôi có giấy tờ định cư tại Hoa Kỳ, tôi có ghé lại thăm và từ giả bà cụ mẹ của Ðông và hai cô gái. Mười mấy năm rồi tôi không trở lại khu Bàn Cờ. Cho nên mọi hình ảnh cũ không còn trong trí nhớ. Bà cụ đã già, nhưng còn mạnh khỏe. Căn nhà mang tên Như Ý như một định mệnh, đã không còn là tiệm giặt ủi. Nguyễn Hải Ðông vượt biên mà gia đình không biết tin tức. Bà cụ cầu khấn, tìm đến mọi thầy bói, mọi cô đồng để mong biết tin tức con trai mà không toại nguyện. Hai cô con gái lấy chồng, nhưng hình như không hạnh phúc như lòng mong ước của mẹ. Một gia đình có những con người phúc hậu, cuối cùng vẫn không tìm thấy hạnh phúc vừa ý.

5.

Tháng tư có mưa nhiều nơi thành phố tôi đang ở. Thường nhằm vào ngày cuối tuần. Việt Nam cũng thường có mưa những ngày tháng tư. Khi những vòng xích T.54 xô nghiến mặt đường xa lộ Biên Hòa và có một chiếc khác lầm lũi chạy qua cửa sắt Dinh Ðộc Lập, thì hình như trời cũng đổ mưa. Không nhiều lắm, nhưng cũng đủ làm ướt át những tâm hồn thơ dại. Những người đàn ông, như chúng tôi, đành rằng phải bầm vập sau một cuộc đổi đời- vì chúng tôi gia nhập vào cuộc chơi có kẻ thắng người bại- nhưng còn những cô gái căng chật một hồn hoa cũng cùng một số phận thì sao? Như Thu, Cúc, như các em tôi. Và những người đàn bà khác?

Bao nhiêu tháng tư trôi qua trên Việt Nam mà mỗi cơn mưa buồn như nước mắt. Ðừng hỏi tại sao cho đến giờ phút nầy, những người đàn ông tị nạn già như chúng tôi, dù đang sống bình an trên đất nước Tự Do mà vẫn còn căm thù cộng sản.

Khi miền Nam sụp đỗ, chúng tôi mới vừa 30, 31 tuổi. Khi chúng tôi rời VN thì đã gần 50. Mấy chục năm thanh xuân kia bị đánh mất vô lý ai trả lại cho chúng tôi?

Còn nữa. Khi Cộng sản chưa chiếm miền Nam, Việt Nam là một trong những quốc gia hàng đầu của Ðông Nam Á. Bây giờ sau một cuộc đổi đời, Việt Nam trở thành một nước nghèo đói ô nhục nhất trên thế giới, ngang với Bắc triếu Tiên và Cu Ba. Hình ảnh phi nhân mới đây trong phiên tòa xử Linh Mục Nguyễn Văn Lý đã nói lên sự thật là Việt Nam đang có những kẻ cầm quyền muốn kéo lùi nền văn minh mà Việt Nam đã từng có, trở lại thời kỳ bộ lạc. Nỗi nhục chia đều cho mấy chục triệu con người lam lũ. Ngoại trừ cán bộ đảng viên. Làm sao để quên và xóa nhòa nỗi nhục đó? Chắc phải mất hàng chục năm...

Buổi chiều nay cuối tuần. Tôi không phải đi làm thêm giờ trong hãng nên có cả một ngày ngồi ghi lại những suy nghĩ của mình, trên chiếc laptop. Thời tiết có vẽ xấu trông thấy khi những cụm mây màu chì xuống thấp gần chạm mái nhà. Có một chút mưa bay trên đầu người qua đường và rét mướt đột ngột. Dự báo thời tiết sẽ có mưa tuyết giữa đêm và những cuộc vui trên đường số 6 sẽ bị hạn chế. Những cô gái vai trần sẽ choàng thêm chiếc áo lạnh hờ hững trên vai và màu son trên môi sẽ úa bầm vì lạnh?

Cuối một con đường, tiếng chuông nhà thờ vang lên tiếng chuông mùa Phục Sinh. Như tiếng cựa mình của một dòng sông. Ngày sẽ tàn khuất sau những ô cửa nơi các tòa buynh đinh. Tiếng chân mưa sóng soài trên mặt đường như trối trăn với đời một thuở xuân xanh vừa khép. Nàng đã đi qua hết một chặng đèn giao lộ, không nhìn lại. Và chổ ngồi lạnh một lời chim...

PNY

 

Saturday, September 15, 2012





ĐÁNH MẤT NHAU ĐỜI CÓ NGHĨA GÌ?
NHƯ LY











Tháng chín bàn giao phút đổi mùa
Ve ngừng tiếng hót giữa đêm qua
Hè phai cánh phượng hồng tàn úa
Dế nỉ non hoài điệp khúc xưa

Mặt biển thu phong gợn sóng buồn
Loang mầu tím phủ bóng hoàng hôn
Mây sa xuống quấn lưng đèo ngủ
Tiếng sáo trầm ngân xoáy buốt hồn

Hạnh phúc tan theo nắng cuối ngày
Dấu yêu nào vuột khỏi tầm tay
Trên da đã tẩm hương trầm ngải
Có cách trùng trùng vẫn ngất ngây

Chẳng thể lià xa, sao biệt ly?
Quất mình bằng những ngọn roi si
Hai phương giấu lửa lòng âm ỉ
Đánh mất nhau đời có nghiã gì

Wednesday, September 5, 2012



SÀI GÒN VÀ TÔI
N.C. M



Kính tặng Thầy Lê Văn Quang, thầy dạy môn Sử Địa thời T.H. đệ nhất cấp. 

Bất cứ ai đã ghé một lần thì luôn nhớ Sài Gòn, ai đã "sống" ở Sài Gòn khi ra đi đều mang theo Sài gòn trong tim,"sao dzậy hén", vì Sài gòn rất là ... Sài gòn...
Ngay khi đặt chân lên miền đất ngập nắng ấm này, cảm nhận đầu tiên là giọng nói của người Sài Gòn: ngọt, mềm mại, ấm và dịu dàng, còn hỏi tại sao có được những "tố chất" ấy tôi xin thua, bạn đọc có thể tìm câu trả lời ở những người viết "tầm cỡ", những nhà" nam bộ học" như các ông Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Vương Hồng Sển...
Khi còn là cậu học trò ở làng quê nghèo, Sài Gòn là nơi mà tôi mơ được đặt chân đến dù một lần cho... biết, trong trí tưởng khi nghe danh "hòn ngọc Viễn Đông", Thủ Đô nước Việt-Nam Cộng Hòa, Sài Thành hoa lệ. Nhưng điều làm tôi xôn xao mơ ước nhất là khi nghe bản nhạc Sài Gòn của nhạc sĩ Y Vân: "dừng chân trên bến khi chiều nắng chưa phai, ngựa xe thấp thoáng muôn tà áo tung bay... phố xá nơi đây đón chân tôi đến chung vui ... Sài gòn đẹp lắm...Sài gòn ơi ...Sài gòn ơi..."
Lần đầu tiên tôi đã "có " Sài gòn như vậy, một chiều nắng mùa hè, nắng chưa phai và nóng rừng rực, một dòng xe cộ nườm nượp, cũng là lần đầu tôi thấy xe xích lô đạp, xích lô máy, những chiếc "tắc-xi" với 2 màu vàng và xanh ... khi chiếc xe hành khách tên Mai Tiến lăn bánh rời Hàng Xanh bon trên đường PéTrus Ký, tôi căng mắt để nhìn Sài Gòn.
Sau buổi chiều biết Sài Gòn ấy, nhờ lòng tốt của người thầy học cũ tôi được trọ học ở nhà thầy thuộc một giáo xứ vùng ngoại ô Sài Gòn.

Sài-Gòn có hàng trăm con đường, người ta hay nhắc tới những con đường khu trung tâm như Lê Lợi, Tự Do, Lê Thánh Tôn, Phạm Ngũ Lão … những con đường "đi" vào văn học được nhắc trong nhạc, thơ, tiểu thuyết như đường Nguyễn Du, Duy Tân, Lê Lợi... có khung cảnh thơ mộng giữa chốn phồn hoa, những con đường có tán me che mát quanh năm, lá me rụng rơi trên tóc những cô gái miền Nam mà giọng nói êm như gió thoảng, ngữ điệu "ngọt" và dịu dàng làm chết lòng con trai tứ xứ, bây giờ nữ sinh cũng mặc áo dài nhưng tôi thấy mất đi hay nói đúng hơn là "giảm chất thơ" trong tà áo dài, có lẽ do ngoại cảnh chi phối trong cái nhìn của tôi chăng, một thành phố nay với hơn tám triệu con người, hầu hết dùng xe gắn máy mà lại ưa chuộng xe "phân khối lớn", dáng xe thể thao cho hợp với thời đại, cứ tưởng tượng thì áo dài đâu có hợp với những Honda@, Dylan, dịu dàng cứ bị gọt đẽo bởi thời @.

Mà bây giờ tóc ngang vai cũng khó tìm, con người phải vật lộn trong đời sống "công nghiệp hóa" tất bật và căng thẳng, người ta vẫn làm đẹp,yêu cái đẹp và để chăm sóc mái tóc của thời khắc "xô bồ" là phải hy sinh, gọn nhẹ, đội cái "nồi cơm điện lên cho an toàn thì mái tóc dài ngắn ai thèm quan tâm, người ta bịt mặt như hiệp sĩ Zoro, thò 2 con mắt ai cũng dáng dấp "xì tin", một va quẹt nhỏ là sừng sộ quát nạt nhau rất là "phi văn hóa", Sài Gòn của tôi xưa không thế... cũng kẹt xe, cũng bao xóm "kênh nước đen" nhưng trong đối xử nhau vẫn rất ấm tình người, dân Nam bộ hay cười xòa và dễ thông cảm, tha thứ và hay kết bạn trong những lúc "hoàn cảnh"...
Nhưng con đường của riêng tôi nó quá đỗi thân thuộc dù tôi chỉ có vài năm ngắn ngủi được làm dân ngoại ô Sài Gòn, nó gói nhiều kỷ niệm và tôi càng quý nó hơn vì nay khi được thăm lại, như một người bạn cố cựu sau bao thăng trầm trong cuộc sống vẫn còn thủy chung: đường đã không đổi tên ... tôi đi từ giáo xứ Hà Nội (An Nhơn, Gò Vấp ) con đường nhỏ tên Bắc Tiến, qua cái ngã tư hướng theo chùa Tiên Long, qua thành Quân Cụ, đến Thông Tây Hội rẽ trái ra Ngã Năm Chuồng Chó, đi dọc theo đường trước Tổng Y Viện Cộng Hòa gặp ngã ba Chú Ía, chạy thẳng một lèo đến ngã tư Phú Nhuận là bước vô con đường này, đi qua rạp cine Văn Cầm, sắp tới cầu Kiệu khi qua khỏi chợ Phú Nhuận, rồi gặp ngã 3 Tân Định, cứ thẳng hướng là tới cuối đường ... là trung tâm Thủ Đô... bạn đoán ra tên con đường này chưa?
Ngã Năm Gò Vấp là cuối tuyến xe buýt, băng qua đường lên xe "lam" về Xóm Mới, những năm Đệ Nhất tôi học chiều, khi có giờ học thêm về qua đây nghe ếch nhái kêu nhớ nhà lắm, năm đầu học trường Chân Phước Liêm Gò Vấp tôi đi xe đạp, khi đậu tú tài một ba tôi cho tiền mua một xe Velo Solex "mới bóc tem" loại 3800, mua trên đường Lê thánh Tôn. Nữ sinh Sài Gòn mặc áo dài đi xe Velo trông dịu dàng và đẹp, công chức nữ hay dùng xe "mô bi lét", cho đến cuối năm 1967 xe nhật ào ạt nhập vô, có loại xe tay ga cho nữ rất nhẹ và cũng thanh lịch là xe honda PC 50...
Người Sài Gòn hiền hòa, vui tính, dễ gần, một công chức, một quân nhân lương đủ "nuôi" gia đình, có lẽ vì vậy nên ít "hoàn-cảnh" và ít "tiêu cực"...

Nếu hỏi sẽ nhớ nhất cái gì khi xa Sài Gòn khó nói lắm vì Sài Gòn có nhiều "cái" rất dễ thương rất làm cho mình nhớ, nếu có chút "tâm hồn ăn uống" sẽ nhớ phở Quyền Phú Nhuận, rồi bò viên khu Tân Định, mê chè thì nhớ tiệm chè Hiển Khánh khu Đakao, hồi ấy tôi và anh bạn tập "mê" nhạc tiền chiến hay lên quán ông "râu kẽm" vùng Ông Tạ (khu Bảy Hiền ) có giàn Akai và những băng nhạc tiền chiến nghe nao lòng, đặc biệt quán có bán lẻ tất cả các loại thuốc lá trứ danh của Ăng-Lê như ba số năm hộp thiếc tròn loại không đầu lọc, vì khách đến quán thường là học sinh, sinh viên nghèo nhưng mang tâm hồn "nghệ sĩ" mà xét cho kỹ túi thường ít tiền... Tôi và bạn bè cũng hay ghé cà phê Thu Hương gần nhà thờ Tân Định, quán này lịch sự và chiều khách, không phân biệt "giai cấp", tôi cũng không bao giờ quên được quán Thăng Long (Xóm Mới) có món đá chanh "bí truyền", sau này có đi uống nước chanh đá bất cứ đâu tôi không bao giờ quên được ly đá chanh của quán này, thầy Quang hay đãi chúng tôi khi ông lãnh lương của hãng RMK- BRJ ,môt tháng 2 kỳ lương nên tôi hay được thầy cho ghé quán này...
Tôi cũng nhớ món nghêu hấp ở đường Nguyễn Tri Phương mà người bạn hay "bao" tôi (anh bạn này cùng tên với tôi và đã ra đi từ tháng tư bảy lăm nếu có đọc được những dòng này chắc anh nhớ tôi vẫn "nợ"những bữa ăn nghêu ngày xưa), rồi những xe hoành thánh mì ở khu Tân Định ăn một tô chưa bao giờ đã thèm. Về ăn uống thời đi học vậy là "sang cả" rồi vì học trò làm gì có tiền, làm gì dư giả, cho tới khi vào quân đội, mỗi lần có phép về Sài Gòn bao giờ tôi cũng tìm lại "quán cũ tình xưa", ăn, uống chỉ như cái cớ... còn ngồi tĩnh lặng lòng "hoài cổ" là nhiều.. (Tất nhiên tôi không dám tham lam để đụng tới đề tài "ẩm thực Sài Gòn") bởi nơi đây đã từng là thủ đô của Việt Nam tự do, kết tụ văn hóa ba "kỳ",ngay phở Bắc, mì Quảng, hủ tiếu Mỹ Tho người ta có thể viết thành một cuốn sách về món ngon ba miền rồi, tôi là cậu học trò chân quê mới bước lên thủ đô, chỉ có những "góc" nhìn nhỏ bé nhưng coi là của riêng mình, chỉ một chút trải lòng trong cái nhớ, trong "hoài niệm", chân bước lại vào phố xưa quá đỗi xô bồ nhộn nhịp nhưng lòng thấy lạc lõng, trơ trọi ... đã có một câu nói về con người "phố" thời @ tôi nghe mà buồn khôn tả : Thạch Sanh thì ít, Lý Thông lại nhiều... có phải vì sự giàu có đi lên từ một nền kinh tế "ba rọi", có phải vì từ các cháu bé con khi tới lớp mẫu giáo đã được dạy làm "cờ đỏ",được dạy "phát biểu"và "giơ tay đối phó"với những "đoàn thanh tra", nghĩa là được dạy NÓI DỐI khi bắt đầu HỌC NHÂN CÁCH ... xã hội rồi sẽ như thế nào khi có rừng tre được lớn lên từ những búp măng như thế? Chuyện nhân cách, sự tự trọng giữa thời buổi "đồng tiền là sức mạnh", nhân nghĩa bị coi là gàn, là dở hơi thậm chí còn bị coi là stupid... Và còn buồn hơn khi báo chí, thông tấn hỏi các "quan", được các quan trả lời thẳng thừng và trơ trẽn: anh chỉ cho tôi xem ở đâu không có tham nhũng, ở đâu không có tệ nạn , ôi làm lãnh đạo mà trả lời như thế , một cách trả lời để vẽ đường cho hươu chạy ,thử hỏi THƯỢNG có BẤT CHÁNH hay không, lãnh đạo mà vô cảm trước tội ác với dân thì ai trị nhỉ ?
Cũng có những hôm trời mưa dầm, những giờ nghỉ học "bất thường" vì thầy dạy một môn bị bệnh, tôi hay "vù" ra công viên Tao Đàn, ngồi ngắm mưa ... nhớ nhà, mua vài điếu Pallmall lẻ và tập làm thi-sĩ...
Tôi cũng thường coi phim rạp Vĩnh Lợi, rạp này thường chiếu phim Pháp ,Ý giá vé hợp với túi tiền học trò còn Eden và Rex chỉ khi có những phim mới và hấp dẫn lắm mới dám xem vì giá vé rất cao, tôi cũng không quên rạp xi nê Văn Cầm trên đường Võ Di Nguy Phú Nhuận, rạp Kinh Thành trên Tân Định, rạp Casino Đakao các rạp này thuộc hạng bình dân hợp túi tiền học trò.
Sài Gòn có một thứ tôi luôn thèm và nhớ là "chợ" sách vỉa hè, khu dọc rạp xi-nê Vĩnh Lợi vì ở khu trung tâm nên sách cũ mà hơi cao giá hơn chỗ khác bù lại hầu như rất phong phú cho sự chọn lựa, chợ sách thứ hai mà tôi hay ghé là vỉa hè trước nhà thờ Tân Định trên con đường "chung thủy" của tôi : đường Hai Bà Trưng.
Nhà thơ Nguyên Sa có một câu thơ mà ai qua thời làm học trò cũng thuộc: “nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát, bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông ... “bây giờ người đẹp Sài gòn ít ai mặc áo dài, thì làm sao thấy cái dáng "áo lụa Hà Đông", dù cho có bao thăng trầm, bao cảnh bể dâu nhưng Sài gòn của thời xưa ấy vẫn nguyên vẹn trong tôi.
Đi Tìm Lại Người Sài Gòn giữa Sài Thành hoa lệ:
Nghe qua câu này có vẻ tôi là tên "phân biệt chủng tộc" nhưng đáng buồn thay, những người Sài Gòn như "ẩn" đâu hết , trong khu trung tâm vắng họ nhiều, thay vào đó là sự hiện hữu của người "Sài gòn mới", âm nói nghe sắc lạnh dù đon đả chào mời, họ "nhầm" khi chào hỏi tôi bằng tiếng Anh, cũng may là tôi còn nói được vài câu tiếng Anh xã giao rồi "biến" cho lẹ vì sợ sẽ nghe "tiếng Đức" và sẽ bị "đốt phong long" vì không mua hàng, họ "nhầm" khi thấy tôi mặc bộ hoa ngụy trang, đội cái nón đi rừng hàng quân đội Mỹ chánh hiệu, lại còn đeo kính Rayban, chiếc máy ảnh Canon G7 đeo lủng lẳng trước ngực nên tưởng tôi là du khách Thái Lan, tôi cảm thấy buồn và tự nhiên nhớ câu thơ trong bài thơ Ông Đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên :
“những người muôn năm cũ
hồn ở đâu bây giờ…”

Bây giờ đầu tháng tư, những người Sài Gòn sẽ rất nhớ khi họ không còn ở Sài gòn, nhớ cái nắng tháng tư, nhớ ly cà-phê đá góc phố, nhớ tiếng rao quà trong canh khuya, trong sáng sớm, và sẽ không quên được tháng tư mà họ bỏ phố ra đi...
Vẫn còn tiệm kem Bạch Đằng mà khi ngồi ở đây có thể nhìn ra 2 đường phố, cũng còn những người bán thuốc lá cho du khách với nhiều hiệu thuốc cho khách Âu, Mỹ, Á... Những shop bán đồ lưu niệm về cuộc chiến Việt Nam mà người mua có thể mua cái bếp hành quân nấu bằng xăng, cái la bàn trên trực thăng, những viên đạn đại liên 50 được bàn tay khéo léo của người thợ thủ công làm thành cái quẹt, những cái quẹt Zippo trên thân khắc nhiều địa danh của quê hương nghèo khó mãi vì chiến tranh, cuộc chiến qua rồi nhưng những người tham chiến thuở ấy có bao nỗi niềm... dẫu biết phải quên đi ... nhưng có qua rồi mới thấu... ngôn ngữ có khi bất lực trước những nỗi niềm này .
Mỗi người có một Sài Gòn riêng cho mình mà khó giải bày cho người khác, tôi cũng vậy, nhưng dù sao đi nữa tôi cũng rất yêu Sài Gòn.

Tháng Tư, năm hai ngàn mười

N.C.M


 

Friday, August 31, 2012

ÁO TRẮNG PHÔI PHAI

NHƯ LY


















Con đường xưa có hàng lá me bay
Còn nguyên vẹn một mầu xanh lưu luyến
Nằm chứng kiến bao nhiêu lần biến chuyển
Chờ tôi về tâm sự chuyện ngày qua

Kể từ khi tà áo trắng phôi phai
Không còn chiếc xe đạp chiều gió ngược
Không còn gót son hồng khua nhịp guốc
Tất cả đều như quyển sách sang trang

Con sóng đời lúc sụp đổ tan hoang
Cuốn theo mối tình xanh đưa đi mất
Vùng kỷ niệm vương dấu buồn lây lất
Hy vọng ngày mai nối lại nhịp cầu

Đã lâu rồi ta chẳng gặp lại nhau
Dù vẫn biết mình cách xa ngàn dặm
Trong tâm tưởng còn khắc ghi sâu đậm
Bóng ngưòi xưa, giờ lạc bước về đâu?

 

Saturday, August 25, 2012

biển xưa giờ vẫn gió

phạm ngũ yên

1.

Buổi sáng rét ngọt trên chỗ ngồi. Không có nắng để nhìn thấy trong mắt nhau hơi ấm. Trên thềm cỏ vừa đổi màu những cánh lá màu vàng sậm từ một mùa đông. Giống như màu tóc của nàng. Chiếc áo phồng căng cánh gió.

Nàng vừa trở về từ Việt Nam. Một đất nước đầy những nghịch lý, vừa mới mẻ vì những đổi thay, vừa cũ mòn vì lòng người vô cảm.

Hơi thở của nàng mới tuần rồi còn ủ những nắng gió nhiệt đới, bây giờ đã khô tạnh một lời chim. Ðã có những ngày mưa lây lất trên vai, trên những vạt cỏ trong thành phố chúng tôi đang sống. Thời tiết lạ lùng đã làm thay đổi một phần đời sống kinh tế của Mỹ quốc, đồng thời làm cho mùa xuân dài hơn những mùa khác trong năm. Tôi không kịp thấy cây anh đào nở hoa khi một mình xuống phố. Nhưng đã có vài cây bên hiên nhà hàng xóm đang lấm tấm chồi nụ màu hồng. Những chuyến xe khép kín cửa và mở máy heat tối đa lười biếng vụt qua. Thời gian trôi như một dòng sông ngỡ ngàng, kéo theo nỗi buồn, không muốn ngừng lại.

Nàng kể cho tôi nghe, về những nơi nàng đã đi qua, trong đó có thành phố biển của tôi. Những con phố đèn khuya thao thức bước chân khách vãng lai về muộn. Những khoảng trời che khuất tầm nhìn vì những nhà cao mọc lên không thứ tự. Trên cùng là những giấc mơ của chúng tôi.

Có bao nhiêu giấc mơ cháy hết trong một đời người nhưng sự thật thì không hiện ra? Tôi chờ đợi những hạnh phúc đàng sau những điều nàng kể. Nhưng chỉ cảm nhận được sự nhức nhối ngỡ ngàng trên những đầu ngón tay. Buổi sáng thật bình yên và tôi nghe tiếng nàng vẫn bên tôi sôi nổi, cùng xen lẫn những lời nũng nịu. Tôi không hình dung ra rằng biển của tôi vẫn hiền hòa như ngày nào tôi còn thơ ấu. Nàng nói. Tôi ngỡ tôi chưa từng phơi mình dưới những tán dù nhiều màu để nghe đời căng chật một cánh buồm. Những con hải âu luống cuống tìm mồi trên bãi cát nước ròng. Cái ngày xưa đó qua lâu rồi.

2.

Mười tám tuổi tôi chưa tròn trịa một tình yêu. Nhưng lòng tôi đã xao động những cơn sóng. Người con gái nhỏ hơn tôi ba tuổi nhưng khôn ngoan hơn tôi tưởng. Nàng cũng chưa biết buồn. Chưa hình dung ra những bão giông đàng sau những vai đời. Những cơn nước lên xuống mỗi ngày và đứng trước biển nàng thấu đáo mỗi lời sóng là mỗi niềm vui. Mười lăm tuổi có lẻ Giang không cần son phấn, nhưng tôi thấy nàng lộng lẫy và quý phái vô cùng.

Tôi nhớ lại một ngày chủ nhật tôi đưa nàng ra biển.

Biển vắng vẻ và trên băng ghế ngồi lạnh lấm tấm những bông bàng. Chúng rụng xuống hồi đêm như để làm những chứng nhân trãi qua lòng hai chúng tôi sự nhớ mong hối hả. Dưới kia, người ta đang kéo lưới lên bờ. Những ngư dân lực lưỡng nghiêng mình kéo những dây lưới bằng hai bàn tay. Nắng lấp lánh như những giải bạc tỏa trên lưng người vũ công trong một hoạt cảnh múa. Những con cá đối hiện ra rõ dần khi lưới kéo lên khỏi mặt nước, chúng đang nhảy xoi xói mong vượt thoát ra khỏi ô lưới, như muốn thoát ra khỏi số phận. Những con cua cũng vậy. Vài đứa nhỏ mặc quần đùi đứng coi, chờ đợi những con cá bị bỏ quên. Giang phấn khởi không kém những đứa trẻ đó. Nàng chạy tới chạy lui tìm kiếm những con cá đang hoi hóp, những con ốc tí xíu màu sắc lạ lùng. Trong mắt nàng chúng trở nên kỳ diệu và quan trọng. Nhìn nàng vui mừng giống như người lính thắng trận hân hoan chạy đôn chạy đáo thu về những chiến lợi phẩm. Một tay túm cao hai ống quần, một tay cầm bao ni lông có đựng nước biển. Tôi đứng ngẩn ngơ nhìn đôi bắp chân trắng muốt như chưa từng biết qua nắng gió, và nhủ với lòng không thể quên hình ảnh đó một mai khi xa cách nàng... Gió thổi mái tóc nàng bay ngược về phía sau, trong khi cuộc đời tôi cũng bay ngược chiều trên tình yêu nàng. Tiếng cười của nàng trong veo ùa qua trái tim tôi mù lòa, đau nhói.

Cuối cùng thì mẽ lưới cũng kết thúc. Và người ta chuẫn bị làm thêm những mẽ lưới kế. Giang tiếc rẻ sánh vai bên tôi lên trở lại bờ. Tôi không cao hơn nàng và ốm o trông thấy. Có những điều chỉ xãy ra trong một phút giây nhưng tồn tại và sâu đậm lâu dài. Hình ảnh của Giang trong buổi sáng chủ nhật đó quả tình theo tôi nhiều năm.

Biển biền biệt sau lưng tôi từ mùa xuân đó. Năm sau tôi rời trường, đi lính.

Cũng một mùa xuân như vậy, tôi nằm trong quân trường. Dưới những gốc cây bã đậu, tôi chà láng những đụn cát theo lời thượng cấp giống như chà láng một quá khứ. Thời gian là sáu giờ sáng. Tôi nhớ Giang vô cùng. Giờ này có lẽ nàng đang nằm trong chăn ấm. Ðang chạm tới một giấc mơ? Làm sao để nuôi dưỡng một tình yêu sắp trở thành tro than không bao giờ thành ngọn lửa?

Khi tôi vừa dứt khóa học quân sự tại Quang Trung, chuẫn bị theo học ngành ở trường Truyển Tin tôi có một tuần lễ phép. Tôi về thăm Vũng Tàu. Buổi sáng đầu tiên tôi ra biển, trúng vào giờ nước đang ròng. Phía xa, cũng có vài ba nhóm người đang thả lưới. Họ đi vòng ra khơi, nhưng chưa đến lượt kéo lưới lên bờ. Tôi ngồi trên một ghế bố, dưới một tàn dừa tơi tả theo thời gian. Tôi kêu một ly cà phê và vài đìếu thuốc lá. Khói bay ẻo lả trên bàn và tan trong gió sớm như mối tình cũng vừa mất đi. Những ngày ở quân trường, ngoài những bài học để trang bị cho một người lính vào đời, tôi học thêm bài học xấu là hút thuốc mỗi khi ngồi một mình.

Màu trời xanh trên cao, giống như màu xanh của biển bên dưới. Vài đám mây lạc lỏng mờ nhạt như muốn gởi gắm một thông điệp không rõ ràng. Hai ngọn núi nằm về hai phía. Như tôi và nàng nằm ở hai đầu cuộc sống.

Có những lúc tôi muốn quên nàng. Vì sự chia xa mỗi ngày thấp thoáng sự tan vỡ, trong khi mưa nắng cứ ùa qua những cửa lòng trống trải.

Một tuần lể phép không lâu nhưng tôi thấy biển mênh mông và thời gian dài hơn một cơn mưa bay qua đời người.

Cát dưới chân tôi vẫn mịn màng như buổi sáng nào nàng dẫm lên đó. Những ngón chân có màu son đỏ như những vệt san hô rướm máu trôi trác trên một trang vở lòng thơ dại, nơi những tình sữ lấp lánh một bến nước rộn ràng. Nơi mà bến cảng và tàu ghe mỗi chiều về cùng những câu chuyện kể về các nàng tiên cá, từ các quán rượu bên đường đang xối xả bia bọt.

Tôi nhớ tiếng cười nàng. Tiếng cười có khả năng nẩy mầm để làm thành những nhánh cỏ tương tư. Có những điều mà tôi không làm sao hiểu được là sự chia cách không phải vì khoảng cách của không gian bao la hay thời gian chật hẹp, mà chia cách vì hình ảnh bé nhỏ của người này trong lòng người kia. Dù biển lúc nào cũng xanh. Dù bầu trời vẫn trong vắt dịu dàng.

Tôi nhớ có một lần tôi rũ Giang đi uống cà phê.

Ðêm tháng ba hiu hắt gió mùa. Vũng Tàu chợt rét đột ngột sau những ngày nắng oi ả. Nàng khoát chiếc áo lạnh trên vai, không chịu mặc vào, đi bên tôi hết một chặng đường mà nghe rưng rưng những vì sao trên đầu. Giữa hai chúng tôi đâu là mơ và thực? Tôi thầm nghĩ và vụng về dừng lại mua một bao thuốc bên đường. Ðứa con gái ốm o ngổi bên tủ thuốc lá trao cho tôi gói Capstan và vặn ngọn đèn hột vịt cho cao ngọn. Tôi thầm tính những số tiền tôi để dành trong túi chuẫn bị cho một buổi tối đầy hao tốn. Cửa biển xưa giờ vẫn gió. Chúng tôi nói đủ chuyện trên trời dưới biển. Về chuyện mưa nắng, chuyện học hành cả hai. Lâu lâu tôi xót xa nhắc về một gả trai nào đó tôi bắt gặp đi bên nàng lần trước. Mười lăm tuổi Giang không cần chọn lựa một hướng đi vì cuộc đời còn mênh mông quá. Ngay cả tình yêu cũng vậy. Biết bao nhiêu đêm gió thổi từ biển về bờ, làm xô lệch vạt áo đêm và trái tim tôi trống hoác?

Tôi hỏi nàng có nên vào một quán cà phê đêm từng là nơi hẹn gặp của hai đứa? Nàng nói “sao cũng được”.

Tôi thấy thương nàng vô cùng. Tiếng nói của nàng giống như một dòng nắng mật chảy qua suốt một mùa đông, làm hồi sinh những cây cỏ.

Tôi nghe hơi thở nàng rung trên tuổi thơ tôi, như tiếng đời câm rung theo những mùa màng. Một chiếc quán chìm khuất trong một lô cốt có từ thời xa xưa. Lô cốt này do người Nhật xây để chống lại cuộc tấn công từ ngoài khơi của hải quân Pháp. Một ông già cô đơn sống trong đó và bán rượu cho những dân nhậu bụi đời. Không biết ai đã đặt tên cho quán của ông là quán Tổ Phụ. Có thể vì cái dáng dấp nhỏ bé và già nua vô cùng của ông. Nhìn ông, người ta liên tưởng đến những nhân vật tiền bối quy ẩn trong truyện kiếm hiệp Kim Dung. Tôi thay đổi ý định đi uống cà phê và nói với nàng nên ghé vào quán ngồi chơi một lát.

Nói là quán cho ra vẻ long trọng, thật ra đó chỉ là một cái chòi che bằng vài tán dừa, bắt ngang qua lô cốt để chịu đựng vài cơn mưa nhỏ nào đó. Còn mưa lớn, thì khỏi vào vì quán đóng cửa. Một chiếc bàn cũ trên đó bày ra mấy con khô cá đuối, cá hố, vài con khô mực, một vài hủ rượu nếp than. Ðặc biệt ông có một hủ ruợu thuốc to ngâm chim bìm bịp trong đó. Tổ Phụ tự hào với khách nhậu là chỉ duy nhứt trong quán của ông mới có rượu bìm bịp. Uống vô tiêu trừ bá bịnh và ... cải lão hoàn đồng như Châu Bá Thông. Mỗi lần có khách lạ đến uống, ông vớt con bìm bịp trong hủ rượu ra khoe: “Ðó là con bìm bịp thứ … mấy trong tháng nầy”.

Chúng tôi thì quá quen thuộc cảnh con bìm bịp khô khốc được lấy ra rồi bỏ vào lại trong hủ rượu mỗi ngày, đến nổi không biết con chim đó có còn nguyên vẹn thịt da như ngày đầu hay đã trở thành một mục rữa nhiều năm. Nhưng màu đen sệch của chất rượu đã như lời cầu chứng hùng hồn về những điều ông nói và chúng tôi cũng không thắc mắc, không so bì, về con bìm bịp thứ nhứt hay thứ mấy mươi từng đi qua cuộc đời ăn nhậu của chúng tôi.

Giang chỉ muốn ngồi xuống một chút, kêu một vài miếng khô mực và ăn để thưởng thức một món ăn về đêm của biển. Nàng cố tạo dáng vẻ giang hồ và đường phố một chút, để làm dáng với  đời.

Ðêm khoáng đạt mùi khô nướng như mùi vị thời gian bay qua tuổi nhỏ. Cùng với biển cả và trăng sao tôi đã lớn lên như cành xanh run rẩy. Tôi đã từng như dòng sông chảy qua những bến nước và không biết ai còn ai mất. Ai bạc lòng chia cách và ai còn đó thủy chung.

Tôi không biết tôi uống được rượu như thế nào. Nhưng tôi biết có một người con gái ngồi bên cạnh tôi và xé khô đuối đưa cho tôi. Bàn tay trắng muốt có những ngón đài cát trang trải hồn nhiên hôm nay hay xé lòng tôi ngày mai thành những mảnh đời vụn vặt?

Men rượu có tên là bìm bịp đó, vì tôi nàng đã nhấp chút đỉnh. Cũng như tôi đã vì nàng mà nhớ nhung mất ngủ một đêm. Giữa tôi và Giang, không biết ai sẽ ngã sóng sượt vào đời nhau và mắc nợ nhau một lời chúc không tròn trịa trăm năm? Nhưng tôi biết từ đêm đó, Vũng Tàu sẽ không quên được nàng. Vũng Tàu sẽ chờ mong và tương tư một cô gái Sài Thành. Như dòng sông tương tư hai hướng bờ nhân quả. 

3.

Hai năm đi lính, tôi được phép trở về. Ngang qua góc biển xưa. Quán rượu bìm bịp không còn vì Tổ Phụ đã chết. Cũng không có ai bên cạnh tôi trên đường đêm mịt mùng.

Nàng đã biền biệt từ khi tôi vào lính. Cũng như nàng không từng chờ đợi bước chân ai dẫm qua trái tim mình. Năm đó Giang 16 tuổi. Còn tôi? Nàng đâu có biết rằng năm tháng cũng biết yêu khi mùa xuân gõ những tiếng mưa trái mùa lên mái nhà. Những trái bàng cựa mình trên cành khô mà suốt một mùa đông đã cố tình trụ lại không chịu rụng. Năm tháng dù dài đến đâu vẫn không làm xô lệch và méo mó mọi hình ảnh trong trí nhớ. Tôi nhớ về nàng. Nhớ cái cung cách nàng ngồi bên cạnh tôi, từ tốn và khoan thai. Nhưng cũng quyết liệt ngại ngần không kém.

Làm sao để tôi thuyết phục một tấm lòng xuân nữ yêu mình và thắp trong lòng nàng đóm lửa đam mê với một que diêm thất bại? Trong khi những ồn ào sinh động vây bủa chung quanh nàng.

4.

Mùa này đang Tết ở Việt Nam. Ðêm giao thừa cháu gái con bà chị gọi phone qua chúc mừng tôi thêm một tuổi- trong lúc tôi đang ngồi trong sở làm. (Gần mười hai giờ trưa). Tôi sững sờ không biết nên vui hay buồn. Nó nói gia đình đang nhớ tôi và mọi người gởi lời thăm. “Bao giờ cậu về Việt Nam ăn tết với tụi con?”. Tôi trả lời nghi hoặc. “Chắc chờ lúc cậu về hưu”.

Ðầu tháng ba có rét nàng Bân (ở quê nhà) cùng với cái rét đột ngột tại đây của cơn bão đi qua vùng Ðông Bắc Hoa Kỳ. Những lá bàng già đã còn hay đã rụng xuống một vùng biển quá khứ? Tôi chưa thể trở về để gõ cửa ngôi nhà tưởng như chìm trong thiên tai và nghe gió tháng ba ùa qua lòng hối hả. Ðể gởi trả lại cho người ấy- ngày xưa- một tiếng cười thân thiết.

Tôi ghi xuống vài câu thơ rời rạc. Qua màn ảnh laptop, tôi biết mình khó khăn để viết ra thành lời những đau khổ, nhưng tôi vẫn không muốn cất nó trong lòng. Khi biết không còn là của nhau, thì những lời văn thơ óng ả có ích lợi gì?

 

Cho đến bây giờ, nhiều chục năm sau, trên một đất nước không phải là quê hương của mình, trong một cuộc sống đầy sửa và mật, tôi vẫn chưa thể trả lời câu hỏi đó. Mùa xuân trôi êm đềm trên những ngọn cây đầy sinh lực. Chiếc bàn nơi góc quán không có dịp đón nhận hơi ấm của cánh tay người tựa lên nó, nhưng vẫn nghe ràn rụa một bình minh.

Có những tình yêu giống như một đời lá. Có những tình yêu giống như một bông hoa. Chúng sẽ ủ rũ hay phơi phới bên đường tùy theo sự đón nhận của trái tim và tấm lòng mỗi người qua lại.

Khi tôi yêu nàng, tình yêu rất son trẻ dường nào. Bây giờ tôi đã hơn 65. Hơn 40 mươi năm rồi còn gì? Những kỹ niệm nào được gợi ra từ một ánh mắt, một môi cười có còn tươi màu hay đã mất biến tàn phai? Những điều gì gây cho lòng nhau những dấu ái có còn nồng nàn hay trở thành ray rức?

Tôi không biết Giang bây giờ ra sao. Không biết nàng còn sống hay đã không tồn tại từ sau một cuộc đổi đời. Nhưng nếu nàng còn sống thì bây giờ nàng ra sao? Thí dụ tôi gặp lại nàng đâu đó, trên đất nước Hoa Kỳ, không biết tôi có nhận được ra nàng dễ dàng như ngày nào? Và nàng cũng vậy, có nhìn ra được tôi ? Không chắc.

Có những điều làm cho người ta sợ hãi. Danh vọng, hạnh phúc, tiền bạc, nhan sắc. Trong đó nhan sắc làm cho người ta sợ hãi nhất. Danh vọng, hạnh phúc hay tiền bạc nếu mất đi, người ta có thể hi vọng một ngày nào đó sẽ tìm thấy lại. Nhưng nhan sắc mà đã bỏ đi cùng với thời gian thì con người khó lòng tìm thấy lại. Năm ba năm không nhìn thấy nhau, đã cảm giác được sự thay đổi. Mười năm hay hai mươi năm, gặp lại nhau thì cảm giác xưa và sự mường tượng cũ đã thay bằng thực tế. Huống hồ là bốn mươi mấy năm.

Tôi nghĩ Giang còn sống và đang sống bình thản ở đâu đó. Một ngày nào đó nếu tôi gặp lại nàng trên đường phố Bolsa chẳng hạn. Cả hai đều không nhận ra nhau và đi lướt qua nhau. Mắt lơ đảng nhìn về phía khác và cái giây phút cảm nhận về nhau cũng không hề. Như hai người xa lạ chưa từng quen nhau. Không có cả một tín hiệu giăng ra từ một trái tim hay nỗi cảm thông về nhau từ một tấm lòng.

Nếu quả thực như vậy, thì cuộc đời phũ phàng quá. Nó đau khổ và tồi tệ hơn là thấy nhau mà không với đụng được với nhau. Nó còn đau khổ và tồi tệ hơn là thấy nhau mà kinh ngạc về nhau vì sự đổi thay lớn quá.

Khi Doctor Zhivago gặp lại Lara trên đường phố Mạc Tư Khoa, là buổi sáng mùa xuân mát rượi những cánh gió. Boris Pasternak để cho Zhivago nhìn thấy Lara dưới đường phố ồn ào. Nhưng Lara thì không thấy ông. Zhivago đang ngồi trên xe điện nhìn mông lung xuống phố. Và trong một lúc đôi mắt ông bắt gặp mái tóc vàng quen thuộc của người đàn bà mà ông từng yêu dấu. Ông đã sững sờ. Người đàn bà tuyệt vời đó đang đứng sau những dòng người để chờ qua đường. Hai tay nàng bỏ trong túi áo khoác màu kem, đầu ngẩng cao như đã từng ngẩng cao thách thức lại số phận. Nhưng có một số phận chung giữa hai người không thể vượt qua, dù cách nhau chỉ một vạch vôi đường. Ðèn xanh. Xe điện vượt lên phía trước. Zhivago đứng bên khung cửa kính tuyệt vọng nhìn xuống. Ông cố gắng làm mọi cách để xe dừng lại, trong khi bên dưới đường, màu vàng thân yêu của mái tóc đã trôi biến theo dòng người. Như vạt gió mùa thu bay qua miền dâu bể.

Zhivago đột ngột cảm thấy khó thở, ông ngã về phía trước. Trong khi miệng cố gắng kêu tên nàng. Trong khi bàn tay xua đi nỗi bi thiết là không thể vói đụng đến hạnh phúc. Cái hạnh phúc lẫm liệt nhưng đầy nước mắt là gần nhau gang tấc mà cách xa nghìn trùng.

Ðàng sau những trang sách khép lại một tình yêu vùi dập thương đau nhưng mở ra giải Nobel văn học cho Boris Pasternak. Cũng đàng sau những trang văn mượt mà nước mắt kia là một tác phẩm kinh điển về mối tình tay ba vĩ đại của thế kỷ hai mươi.

5.

Làm sao để tôi vẫn còn yêu mến đời sống này một khi tình yêu không còn đậu xuống và mỗi ngày nghe giông bão trên vai?  Chính vì những giây phút ngắn ngủi mà lẫm liệt đó. Gần 50 mươi năm, kể từ khi bước xuống cuộc đời, tôi vẫn trang trọng mọi điều làm nên tình yêu, dù hạnh phúc hay khổ đau. Dù từng chia tay hay từng nắm tay đi nhau dưới một con đường. Dù sáng bình minh hay đêm dài thao thức. Người ta không chờ đợi những bất hạnh nhưng không thể quay lưng lại bất hạnh.

Ðộc giả và bạn hữu hỏi tôi tại sao cho đến giờ phút nầy tôi vẫn còn viết được về tình yêu và tác phẩm của tôi vẫn còn thấp thoáng những nhân vật còn biết thổn thức môi hôn trong khi ràn rụa nước mắt? Tôi không có bí quyết nào khác ngoại trừ tâm hồn mượt mà những cánh đồng xanh và đôi môi luôn bầm vập những vết roi đời. Tôi đã chạy qua nghịch cảnh bằng tuổi thơ vừa cơ hàn vừa ốm đói. Nhưng tôi biết chấp nhận quà tặng cho đi hay lấy lại của đời sống. Trong đó, còn bao hàm hạnh phúc và luôn cả khổ đau.

Trước khi tôi là một đứa học trò biết thu nhận mọi điều hay lẽ đẹp trong sách vở tôi đã là một đứa trẻ mồ côi cha. Tôi đang sống êm đềm dưới một mái ấm cùng với người thân nhất trong đời thì chiến tranh đã làm mất đi hình ảnh một người cha. Khi tôi đi học và bước xuống cuộc đời, thì mẹ tôi là người dạy tôi biết can đảm để đón nhận. Thầy giáo dạy tôi kiến thức. Nhưng mẹ tôi cũng là người dạy tôi biết thêm một mặt khác của đời sống. Tôi sẽ kể ra chuyện nầy vào một dịp khác.

Có rất nhiều buổi sáng tôi ngồi uống cà phê trong một quán cà phê quen, trong thành phố tôi đang sống là Austin, Texas. Tôi định cư tại đây gần 20 năm. Có nhiều buổi sáng cuối tuần tôi uống một mình và cũng có nhiều buổi sáng tôi ngồi với một người đàn bà vừa quen. Chiếc bàn hai chỗ ngồi lạnh căm khi mùa đông và mát mẻ vào mùa thu. Ðôi khi cái nóng của mùa hè làm khô môi nàng hay mưa phùn có làm tóc nàng lướt thướt. Mọi thứ, có khả năng làm hạnh phúc và làm tròn trịạ những ngày tháng tạm dung. Mọi thứ như đậm đà thêm ly cà phê không bỏ đường của hai chúng tôi. Lâu lâu có vài chiếc lá bay lạc xuống chỗ ngồi. Những chiếc lá tạo thành nỗi nhớ từ một cửa sổ phòng đêm bốn mươi mấy năm. Rụng xuống như bước chân những người đi qua đời nhau, tê điếng…

 

Austin tháng 3 2012

 

VỢ CHỒNG ĐIỆP VIÊN

PHẠM THÀNH CHÂU

 

Học xong trung học, tôi thi vào Đại Học Sư Phạm ban Anh Văn.

Trong thời gian là sinh viên tôi còn làm việc cho số 3 Bạch Đằng. Đó là cách nói gọn của phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo Việt Nam Cộng Hòa.

Tôi làm tình báo vì có máu phiêu lưu, thích chuyện mạo hiểm, sau nầy lại thêm mối thù việt cộng giết cha tôi. Ông già tôi là chủ một nhà máy xay lúa nhỏ ở vùng quê tỉnh Bạc Liêu. Vì là vùng mất an ninh nên phải đóng thuế cho việt cộng, ấy vậy mà cũng bị chúng nửa khuya đến gõ cửa đem ra đồng bắn bỏ. Cả mấy năm sau, tôi cố tâm điều tra mới biết rõ thủ phạm là một tên nằm vùng trong xóm, chỉ vì một xích mích nhỏ, hắn dẫn đồng bọn về giết người. Dĩ nhiên tôi trả thù.

Sau khi tốt nghiệp sư phạm, trong lúc chờ sự vụ lệnh, tôi lẻn về nhà trốn trong phòng không cho hàng xóm biết, đến khuya tôi đến nhà hắn, nằm sau hè chờ. Ở thôn quê không có phòng vệ sinh trong nhà, khi cần thì ra sau vườn. Qua đêm thứ hai hắn mở cửa ra đi tiểu, tôi chĩa súng vào lưng hắn.

- Đồng chí ra ngoài kia trả lời trước tổ chức về vài việc cần gấp.

Hắn sinh nghi định phản ứng, tôi giáng cho một bá súng vào đầu, hắn bất tỉnh, tôi cột chân tay hắn, cõng trên lưng, ì ạch băng đồng ra chỗ bọn chúng giết cha tôi.

Tôi khai thác tận tình cho đến khi hắn thú nhận tội giết cha tôi, lúc đó tôi mới cho hắn biết sự thật. Hắn van lạy, nhưng vô ích, hình ảnh cha tôi chết oan ức, mắt vẫn mở trừng trừng khiến tôi sôi gan.

Sau đó gia đình tôi bán nhà máy xay lúa, bán nhà lên Sài Gòn ở. Tốt nghiệp xong tôi được điều đi các tỉnh dạy học. Sau mỗi công tác tình báo dù thành công hay thất bại tôi lại chuyển qua tỉnh khác.

Câu chuyện bắt đâu khi tôi được giao cho việc theo dõi một cô thợ may ở ngoại ô một thành phố ven biển miền trung.

Nguyên nhân là thỉnh thoảng lại có truyền đơn rải vào buổi sáng trên con đường vào thị xã. Đây là con đường mà đa số nông dân thường đem nông sản vào chợ bán. Họ chở bằng xe đạp, xe lăm hay xe bò.

Sáng sớm nào cũng có cảnh sát rình ở đó nhưng chẳng thấy ai đáng tình nghi cả. Sau phải cho người nằm sát lề đường mới khám phá ra một cô gái đi xe đạp chở rau muống phía sau, dưới chân chỗ bàn đạp để mớ truyền đơn, cứ dỡ nhẹ chân là truyền đơn rơi xuống đường khó mà thấy được nhất là ở quãng đường tối.

 

Qua điều tra đây là cô thợ may nhà ở vùng ngoại ô, sát địa giới thành phố. Sau nhà là một vạt ruộng nhỏ trồng rau muống, mỗi sáng cô chở rau vào chợ bán sỉ cho bạn hàng rồi về ngay. Cô sống với một mẹ già hơn sáu mươi tuổi.

Gọi là tiệm chứ thực sự là một bàn máy may phía trước, cách một tấm vách cót là giường ngủ của hai mẹ con vừa làm chỗ thử áo quần. Gia đình nầy mới từ một quận miền núi về hơn một năm nay. Theo báo cáo, trước đó cô là nữ sinh trung học, sau theo nghề may. Tiệm của cô khá đông khách vì cô hiền lành, vui vẻ lại lấy công rất rẻ, có lẽ đây là trạm giao liên hơn là cơ sở kinh tài của địch.

Nhiệm vụ của tôi là tìm cách tiếp cận cô để theo dõi. Tôi sẽ đóng vai một kẻ si tình cô, gặp gỡ cô mà bọn chúng không thể nghi ngờ, hoặc tốt hơn nữa sẽ được móc nối làm việc cho chúng.

Một buổi sáng chủ nhật tôi chạy xe gắn máy gần đến nhà cô thì xe chết máy phải dừng lại sửa. Tôi vào tiệm xin cô miếng giẻ rồi loay hoay mở máy ra chùi, thay bu gi, tháo bình xăng con... toát mồ hôi mà xe vẫn không nổ. Tôi xin cô miếng nước uống và ngồi trước hiên nhà cô hỏi vài câu vơ vẩn rồi dẫn xe về.

Qua hôm sau tôi đem một xấp vải đến nhờ cô may cho một áo sơ mi. Lần nầy tôi được cô mời vào nhà vì tôi là khách. Thế rồi, thỉnh thoảng tôi lại nhờ cô may một thứ gì đó và tôi ngập ngừng nói là tôi làm thế để được dịp gặp cô, không gặp tôi nhớ. Cô có vẻ bất ngờ, nhưng yên lặng. Những lần sau cô lại càng giữ ý, nhưng tôi bắt gặp trên đôi mắt cô mỗi khi thấy tôi, long lanh niềm vui.

Trong lúc trò chuyện tôi cho cô biết về gia đình tôi rằng ông già tôi tham gia mặt trận bị quân đội Quốc Gia hành quân bắn chết. Thỉnh thoảng tôi đi chùa nghe thuyết pháp hoặc tham gia mít ting, tôi phát ngôn bừa bãi ra người bất mãn chế độ.

Sau một thời gian lạnh lùng, giữ kẽ, cô có vẻ thân thiện, vui vẻ hơn. Kẻ thù trong bóng tối đang kéo dần con mồi về phía chúng, tôi biết mình đã được để ý, nhưng chỉ đến đấy thì hầu như bế tắc, tôi không biết được những gì chúng tôi cần.

Một sáng chủ nhật, như thường lệ tôi đến thăm cô, nhưng đến nơi chỉ thấy một đống tro tàn đang bốc khói. Thì ra, không hiểu vì sao lúc khuya lửa bắt cháy, hai mẹ con chỉ kịp chạy thoát thân. Tôi khuyên nhủ nhưng cô vẫn lắc đầu lo lắng.

- Tiền mua bàn máy may, mua miếng đất em trả chưa hết nợ, còn quần áo của khách nữa, họ nói bao nhiêu phải cố mà trả. Nhưng em còn đồng nào đâu!

Tôi hứa với cô là sẽ hết lòng tìm cách giúp đỡ. Thế rồi tôi về bán chiếc xe gắn máy. Nhờ bà con chung quanh phụ giúp nhặt nhạnh những miếng tôle còn xài được, mua ít vật liệu, dựng lại căn nhà mới cũng khang trang, ngoài ra còn mua được một bàn máy may mới nữa.

 

Chỉ trong một tuần tôi lo toan cho cô chu toàn. Từ đấy thái độ của cô đối với tôi thay đổi hẳn. Chúng tôi thường đưa nhau đi xem hát, ăn quà rong, đôi khi cô đến nhà trọ thăm tôi nữa. Mỗi khi đi với nhau cô thường chải chuốt, thoa chút phấn hồng trên má, trông cô đẹp hẳn ra, như lột xác từ một cô thợ may lọ lem thành một nàng tiên, nhưng đối với tôi, đi bên cô, nhất là những chỗ vắng, tôi có cảm giác rờn rợn, tưởng như mình đang đứng trước đỉnh đầu ruồi của một họng súng nào đó trong bóng tối. Vì nghề nghiệp, lúc nào tôi cũng cảnh giác, ngụy trang, dọ dẫm tìm một chỗ an toàn phía sau lưng.

Một lần cô ghé nhà trọ thăm tôi, có một bà hàng xóm biết cô là thợ may đến năn nỉ cho con gái học nghề may. Cô là học sinh thi hỏng tú tài, muốn theo nghề may để phụ giúp gia đình. Nghe tôi nói thêm vào cô ta có vẻ bằng lòng nhưng hẹn ít hôm nữa mới trả lời, có lẽ chờ quyết định của tên đầu sỏ, chỉ huy cô.

Tuần sau cô đồng ý nhận học trò. Được độ ba tháng nhờ sáng ý, cô bé học nghề khá tiến bộ. Tiệm may cũng đông khách hơn trước.

Một hôm tôi gọi riêng cô bé hàng xóm qua nói chuyện.

- Em học nghề may với chị Lan đến đâu rồi?

- Em cắt chưa vững nhưng may thì khá lắm, khách nào cũng khen đường chỉ em thẳng, mịn và đẹp.

- Có lẽ cần một máy may nữa mới phụ chị Lan kịp giao hàng cho khách.

- Em cũng nghĩ vậy nhưng không có tiền.

Tôi tâm sự với cô học trò.

- Như em biết, thầy và chị Lan yêu nhau, dự định sẽ làm đám cưới, nhưng thầy còn ngại hình như chị Lan đang yêu ai nên thầy nhờ em giúp thầy tìm hiểu chị Lan xem có ai đến thân mật chuyện trò với chị ấy không? Em sẽ chẳng làm gì cho chị ấy nghi ngờ. Thầy có cái máy nầy, sẽ giấu dưới xách tay của em, khi đến nơi, em chỉ cần mắc xách tay sau lưng chỗ ngồi của em sát vách với phòng thử áo quần. Chỉ thế thôi, đừng cho bất cứ ai biết chuyện nầy. Nếu chị Lan hay ai bắt gặp cứ bảo rằng đó là máy thu thanh, thầy sẽ chỉ em cách mở nghe đài phát thanh. Em cũng đừng cho chị ấy biết là thầy cho em mượn tiền mua máy may, sợ chị nghi ngờ, ghen tuông phiền phức.

Thế là chúng tôi nghe rõ những trao đổi, bàn bạc với nhau của bọn chúng trong phòng thử quần áo. Một bộ phận khác rình thu hình những khách hàng khả nghi và tiến hành điều tra. Chúng tôi gần như nắm vững tất cả những tên nằm vùng, cơ sở kinh tài, nơi chứa chấp những tên xâm nhập nữa, nhưng tên đầu sỏ vẫn chưa tìm ra!?

 

Trong nghề nầy, một chút sơ ý là chết. Như cô thợ may, bị chúng tôi theo dõi mà không hay biết. Cô với tôi như hai tay nhu đạo đang lừa nhau để vật đối thủ xuống, cô đã bị thất thế hoàn toàn, nhưng tôi chưa ra tay và chờ cô ra đòn. Có thể cô làm bộ chuyện trò, hỏi han để tìm hiểu tôi hoặc rủ tôi một chiều nào đó ra vùng quê hóng gió tâm sự... Nhưng tuyệt nhiên chuyện đó không xảy ra. Cô lúc nào cũng ít nói, dịu dàng, nhưng như thế lại càng làm tôi e ngại và thấy cô rất bản lĩnh, rất nguy hiểm.

Đi bên cô tôi cố làm vẻ sung sướng, hạnh phúc nhưng thật sự tôi có cảm tưởng cô như con rắn độc, chỉ một tích tắc cô hành động là đời tôi tàn ngay. Mạng tôi đổi mạng cô thì không xứng. Thế nên tôi chẳng hứng thú gì trong vai trò nầy cả. Tôi được lịnh phải tiến xa hơn tức là phải chung đụng xác thịt để giữ chặt con mồi, nhưng tôi không làm được. Dù cô có yêu tôi thực hay giả vờ tôi cũng quyết không đụng chạm đến nơi thiêng liêng đó của người con gái. Đó là yếu điểm của một tên tình báo non tay nghề như tôi.

Mùa hè năm đó, đối phương lên phương án tấn công tỉnh. Mẻ lưới được tung ra. Chúng tôi dự định hành quân vào lúc khuya.

Buổi chiều cô bé học may về báo cho tôi biết là lúc trưa có một ông sư khất thực đến trước nhà, cô Lan ra cúng dường, ông sư lầm thầm tụng kinh chúc phúc như mọi khi, nhưng lúc quay vào, thấy mặt cô tái mét, người cứ run lên bần bật...Chúng tôi đề nghị cảnh sát hành quân sớm hơn dự định. Thế là cả bọn bị tóm, kể cả chính tôi cũng bị cảnh sát đến gõ cửa, còng tay, đẩy lên xe cây.

 

Thường thì sau khi vở kịch đã hạ màn như thế, tôi thảnh thơi nghỉ ngơi rồi nhận công tác mới. Nhưng không hiểu sao hình ảnh cô ta vẫn nguyên vẹn trong đầu tôi. Khi cô bị bắt, bị giam giữ, lòng trắc ẩn của tôi lại nổi lên. Đàn bà, con gái, trẻ con không có chỗ trong chiến tranh, họ phải được ở hậu phương, phải được thường xuyên che chở, bảo vệ. Một cô gái vô ý vấp ngã thấy đã động lòng rồi, huống gì cô thợ may hiền lành, dịu dàng kia đang bị nhốt trong nhà giam sau những song sắt như một con thú đã bị săn bắt, chờ ngày bị đem xẻ thịt.

Tôi đã nhiều lần bí mật nhìn cô ủ rũ ngồi ở một góc phòng giam, héo úa như không có linh hồn, không còn cảm giác, suy nghĩ gì. Tương lai là chết rũ trong tù, tình yêu, hy vọng của tuổi thanh xuân coi như đã chấm hết.

Đối với cô, tôi thấy thật bất nhẫn, lừa gạt một cô gái dù cô ta được điều khiển từ trong bóng tối. Và khi cảm tưởng cô không còn là kẻ thù của tôi nữa, sự cảnh giác đã được gạt bỏ, như bụi bặm trên một bức tranh đã được chùi sạch, để lộ ra hình ảnh trong sáng, dịu dàng của cô trong tâm trí tôi. Thế nên tôi đề nghị thả cô ra để cho những con mồi khác đến móc nối lại với cô.

 

Từ phòng giam, tôi lại được gọi lên để đối chất về sự liên hệ giữa tôi và cô. Chúng tôi xác nhận có yêu nhau nhưng chẳng biết gì về việt cộng cả và anh cảnh sát thẩm vấn (vờ) tin ngay là thật, anh hứa sẽ thả chúng tôi ra và anh bỏ đi làm giấy tờ. Tôi đến ngồi gần cô cầm lấy tay cô, cô ngước nhìn tôi và lắc đầu, có lẽ cô cho rằng lời anh thẩm vấn viên chỉ là cái bẫy, nhưng tôi cố tình cho cô hiểu tôi là người có thẩm quyền, tôi cứu cô ra vì tôi yêu cô.

- Như em đã nghe lúc nãy, anh xin bảo lãnh em và chịu trách nhiệm liên đới về những hành động của em sau nầy. Nếu em thương yêu anh thực lòng thì em hãy lánh xa những gì có thể gây nguy hiểm cho em. Em còn mẹ già phải nuôi dưỡng, rồi em sẽ lập gia đình, có con cái, sống hạnh phúc như bao người bình thường khác.

Đừng dại dột nữa, không phải anh sợ bị vạ lây nhưng nếu em gặp chuyện không may anh sẽ đau khổ lắm. Anh sẽ thu xếp cho em và mẹ em vào Sài Gòn sống lẫn trong đồng bào thì sẽ không có ai quấy rầy em nữa. Chúng mình sẽ làm đám hỏi và khi nào anh vận động xin về dạy gần Sài Gòn sẽ làm đám cưới.

Cô cúi đầu yên lặng nghe, rồi cô nắm tay tôi đặt lên đùi cô, siết nhẹ. Một giọt nước mắt rơi trên tay tôi. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Cô đã hiểu ý tôi. Cô viết cho mẹ cô một lá thư, dặn bán nhà để chuẩn bị về quê, chỉ giữ lại bàn máy may.

Sau đó chúng tôi lặng lẽ về Sài Gòn.

Nhờ bạn bè giúp đỡ, tôi tìm mua được một căn nhà nhỏ ở chợ Cây Quéo, góc đường Hoàng Hoa Thám, Ngô Tùng Châu Gia Định. Dĩ nhiên việc theo dõi cô không phải đã chấm dứt.

 

Công tác của chúng tôi thường được tình báo Mỹ yểm trợ. Người Mỹ rất hào phóng nhưng cũng rất nguyên tắc, họ đã vui vẻ trả lại tiền cho tôi mua lại chiếc xe gắn máy, trả cả những chi phí lặt vặt như đưa cô đi xem hát, ăn quà rong. Nhưng sau cuộc hành quân, hồ sơ coi như đã đóng.

Lần nầy tôi lại bán xe, vay mượn thêm để lo cho cô mà không biết khi nào mới có tiền mua lại xe khác.

Suốt mấy tháng hè, tôi về Sài Gòn với gia đình. Buổi chiều tôi thường ghé thăm cô, có khi tôi ăn cơm tối với gia đình cô. Sau bữa ăn, bà mẹ dọn dẹp chén đĩa, còn cô thì xin phép đi tắm. Chợ Cây Quéo nằm trong một đường hẻm, sau khi tan chợ chiều, trở thành vắng lặng như ở một vùng quê.

Sau nhà cô có một sân vuông nhỏ, rào kín chung quanh, tôi thích ra đấy ngồi xuống một ghế gỗ dài để chờ cô. Cô có thói quen là sau khi tắm cô không mặc nịt ngực, nên qua lần vải mỏng, đồi ngực cô thẳng đứng lên, lồ lộ như hai mụt măng tre vừa chồi lên khỏi mặt đất.

Cô ngồi cạnh tôi, nghiêng đầu dùng khăn vò mái tóc cho khô, chải nhẹ cho tóc thẳng, xong cô ngửa người vuốt mái tóc về sau lưng, rồi cô nhìn tôi mỉm cười. Tôi yên lặng ngắm cô, tưởng như thấy rõ làn da mịn màng, thơm tho của thân thể cô... Sau đó chúng tôi có một thứ quà rong như chè hay trái cây để vừa ăn vừa chuyện trò đến khuya mới chia tay.

 

Sau kỳ nghỉ hè tôi được chuyển ra Huế dạy học, tôi viết cho cô một lá thư dài và hẹn Tết sẽ về xin làm đám hỏi. Tính cô ít nói, ngay cả thư trả lời chỉ vỏn vẹn mấy câu "Được thư anh, em khóc mấy hôm nay vì vui mừng. Cám ơn anh đã hiểu em và lời hứa của anh lần nầy em tin là thật, bằng trái tim và cả cuộc đời em"

Khoảng cuối năm đó tôi xin phép về Sài Gòn, khi đến nhà cô tôi ngạc nhiên thấy nhà đã sửa sang lại tươm tất. Cô dẫn tôi ra phía sau khoe một căn phòng vừa mới được xây thêm.

- Mẹ ngủ phòng ngoài kia, em ngủ trong nầy.

- Còn anh thì nằm dưới đất?!

Cô đỏ mặt nhưng sung sướng.

- Anh với em phòng nầy chứ.

Lễ hỏi chúng tôi diễn ra đơn giản, kín đáo. Gia đình tôi cứ tưởng tôi sẽ lập gia đình với một cô nữ sinh nào đó, không ngờ là một cô thợ may. Chẳng phải họ kỳ thị hay giai cấp gì mà theo lệ thường, thầy giáo rất dễ chọn vợ đẹp trong trường mình dạy. Nhưng khi gặp lần đầu, mọi người đều thích cô ngay. Cô vừa hiền vừa đẹp một cách thùy mị.

Mẹ tôi cứ mẹ mẹ con con với cô ngọt xớt, các cô em gái tôi thì tíu tít hỏi han, trò chuyện rất thân mật khiến cô bối rối, vụng về vì cảm động.

Từ đó gần như ngày nào tôi cũng đến nhà cô, đôi khi ngủ lại nữa, nhưng chúng tôi đã hứa với nhau phải giữ gìn, để dành cho ngày hôn lễ. Cô có những suy nghĩ lẩm cẩm rất đàn bà. Cô thêu những áo gối có hình quả tim, tên tôi và tên cô lồng vào nhau, hình đôi chim đang bay, rồi cô phân vân về tên của những đứa con trong tương lai. Tôi chế giễu thì cô giận, nhưng thâm tâm cô rất vui sướng với giấc mơ đơn giản đó.

Tôi bàn với cô vài tháng nữa sẽ làm đám cưới, nhưng rồi đầu năm bảy lăm miền Nam bắt đầu sụp đổ từng mảng, tất cả tan rã như bọt nước.

 

Người ta ùn ùn chạy về phía Nam, tôi phải nấn ná lo tiêu hủy hồ sơ, phân tán mạng lưới nên vào đến Đà Nẳng lại đành quay về Huế vì miền Trung đã rơi vào tay đối phương rồi. Kẻ thù hình như chưa biết gì về tôi cả ngoài cái vỏ bọc thầy giáo trung học. Chúng bắt đầu gọi các cô thầy đến khai lý lịch và như đang sắp xếp mở cửa các trường học.

Thế rồi khoảng cuối tháng năm, năm bảy lăm, nửa khuya, chúng đến vây nhà trọ, gõ cửa, còng tay tôi dẫn ra xe. Thoạt nhìn, ngoài chiếc xe cảnh sát chở đầy bộ đội tôi còn thấy một xe mang số ẩn tế Sài Gòn, tôi biết ngay bọn chúng đã tìm ra chính xác tông tích tôi. Nhưng tại sao trung ương lại không hủy hồ sơ?

Ngồi kèm tôi là hai tên bộ đội còn trẻ mang súng AK. Phía trước, bên cạnh tài xế là một người đàn bà. Xe chạy ra khỏi cửa Thượng Tứ, qua cầu Trường Tiền đến đường Duy Tân, chiếc xe chạy trước quẹo vào ty cảnh sát (cũ), còn xe chở tôi chạy thẳng, hướng về quốc lộ. Tôi đoán chúng đưa tôi về Sài Gòn khai thác. Tôi dự định thoát thân, nhưng đến gần phía Nam tôi mới hành động. Nghĩ thế nên tôi buông thả, thiu thiu ngủ dưỡng sức.

 

Dọc đường xe phải ngừng ở các nút chặn, tên tài xế cũng là bộ đội trình giấy và nói gì đấy, ánh đèn loang loáng vào xe, rồi xe lại tiếp tục. Đến Quảng Ngãi trời đã rạng sáng, tôi lơ mơ mở mắt nhìn quanh. Bỗng tôi lạnh người khi nhận ra người đàn bà ngồi phía trước là cô thợ may, vợ sắp cưới của tôi.

Hóa ra chúng tôi đã lầm trong điệp vụ vừa kể, tên đầu sỏ là cô ta chứ không phải gã thầy tu khất thực. Tôi cay đắng cười thầm mình thua trí một người đàn bà, cô đã ngụy trang một cách tài tình, không chỉ đánh lừa chúng tôi mà còn đánh lừa cả đến lũ chân tay của cô.

Nhớ lại những ngày chúng tôi bên nhau, tôi sượng sùng, xấu hổ với cô. Cô đã đóng một vai kịch rất xuất sắc, rất bản lĩnh, tôi vẫn chỉ là một con mồi ngây thơ. Ấy vậy mà tôi cứ tưởng tình yêu chân thành của tôi đã cảm hóa được cô. Giờ đây cô ngồi đó, lạnh như tiền. Cô đang nghĩ gì về tôi, một tên điệp viên hạng bét, ngây ngô, lãng mạng tiểu tư sản?

Xe đến Bình Định, ghé vào một quán cơm bên đường, tôi được tên bộ đội mở còng nhưng dặn "Cần gì nói tôi, giữ khoảng cách năm bước, đến gần hay xa hơn, sẽ bị bắn bỏ"

Tôi được dẫn vào ngồi một bàn ở một góc quán, mấy tên bộ đội ngồi hai bên, còn cô ta thì ngồi riêng. Sau bữa ăn, lúc trả tiền cô lôi ra một xấp bạc mới tinh, rút vài tờ vất đấy, đứng dậy, không lấy tiền thối.

Tôi cố tỏ ra sợ sệt và ngoan ngoãn để chúng tin, hi vọng đến chiều tối nếu cũng ăn uống như thế nầy tôi sẽ bỏ chạy rất dễ dàng và bóng đêm sẽ che chở cho tôi. Nhưng tôi đã lầm, xe chạy suốt đến sáng, đến ngã ba Hàng Xanh theo đường Bạch Đằng, rồi Chi Lăng, Ngô Tùng Châu và vào hẽm chợ Cây Quéo.

 

Cô vào nhà một lúc lâu mới đi ra với bà mẹ. Hai mẹ con ngồi phía trước, xe lại tiếp tục trở ra xa lộ đến Biên Hòa quẹo hướng Vũng Tàu. Tôi đoán chúng sẽ truy tôi về công tác ở Vũng Tàu, Long Hải trước đây hoặc giao cho lũ nằm vùng, nội tuyến đã bị tôi đưa đi tù, và chúng sẽ mặc sức trả thù.

Đến Vũng Tàu, ghé mua mấy ổ bánh mì thịt, xe vào một khách sạn hạng trung bình. Sau khi ăn uống, làm vệ sinh, tôi lại bị còng tay cho vào phòng riêng, phía ngoài là hai tên bộ đội canh cửa.

Tôi nghe cô ta dặn hai tên gác là phải cảnh giác cao độ với tên địch nguy hiểm đó (là tôi), và cô đến ủy ban quân quản có chuyện cần, sẽ về ngay. Tôi mệt mỏi lăn ra ngủ một giấc lấy sức, dự định tối nay leo cửa sổ trốn đi. Cái còng không thành vấn đề, một cọng thép nhỏ là xong, và cọng thép đó đang nằm trong sợi dây đồng hồ mà tôi đã có được lúc tôi đòi đi tiểu ở hàng cơm ở Bình Định.

Nhưng đến gần tối, sau khi được ăn một ổ bánh mì nữa, chúng lại còng cả chân tôi vào giường và hai tên bộ đội ngồi ngay trong phòng tôi, thay phiên nhau lõ đôi mắt cú vọ canh chừng tôi. Thế là hết đường trốn thoát!

Nhớ lại thời gian hứa hôn chúng tôi sống bên nhau, cô đã dần dần hiểu tôi, trong sự săn sóc cô đón ý tôi rất tài. Lúc đó tôi sung sướng nghĩ rằng mình có được cô vợ toàn tâm toàn ý, bây giờ chính cái toàn tâm toàn ý kia lại hại tôi. Cô đã thấy được không sai chạy những gì tôi nghĩ trong đầu, dù chỉ vừa thoáng qua là cô đề phòng ngay.

Tối đó độ hơn mười giờ, tôi được dẫn ra xe, vẫn đủ sáu người như trước. Xe chạy loanh quanh trong thành phố một lúc rồi hướng ra Bãi Sau.

 

Trời đêm đầy mây, lạnh kinh khủng, miền Nam chưa bao giờ lạnh như năm đó, đường vắng tanh, lờ mờ ánh đèn, tiếng sóng vỗ rì rào, buồn bã. Xe chạy đến cuối bãi thì dừng lại. Cô ra lịnh bịt mắt tôi lại.

- Đồng chí đưa tôi khẩu AK. Cứ ở đây chờ, khi nào nghe tiếng súng nổ tôi sẽ ra.

Và cô nói với bà mẹ, giọng lạnh lẽo, hàm răng rít lại.

- Mẹ phải theo con, xem con trả thù kẻ đã giết hại gia đình mình và bao nhiêu đồng chí khác nữa.

Đúng là oan oan tương báo. Tôi đã xử tội tên nằm vùng giết cha tôi ra sao, bây giờ tôi sẽ gặp y như vậy. Nhưng tôi không nhớ rõ mình đã làm gì để cô thù hận tôi đến độ giờ đây đem ra xử bắn tôi, không lẽ cô là con của tên nằm vùng kia?!

Cô lên đạn, chĩa súng vào lưng tôi, đẩy tôi đi trước. Cô đã phạm một sai lầm chết người. Cô dí súng vào lưng tôi là giúp tôi nắm được quãng cách giữa cô và tôi. Tầm vóc cô thì tôi còn lạ gì. Chỉ cần tôi quay nhanh lại là mũi súng sẽ chệch ra ngoài và với một đòn chân, tôi có thể đá gãy cổ cô hay ít ra cũng hạ gục cô trong tích tắt. Trong bóng tối thì bị bịt mắt hay không cũng mù như nhau. Tôi lần tìm cọng thép trong dây đồng hồ và bắt đầu mở khóa còng tay.

Được một quãng, khi đoán đã xa tầm nghe ngóng của mấy tên bộ đội, tôi vừa định ra đòn thì cô mở băng bịt mắt tôi.

- Anh cõng mẹ được không? Nhanh lên! Nếu có chuyện gì, anh và mẹ cứ chạy thoát đừng lo cho em. Có thuyền chờ sẵn đằng kia.

Cô ôm súng chạy phía trước, tôi cõng bà cụ men theo bờ rừng dương liễu mải miết theo cô.

Độ một cây số, chúng tôi đến một thuyền nhỏ có người chờ sẵn. Thuyền được đẩy ra, nổ máy và nửa giờ sau chúng tôi ra thuyền lớn đi thẳng.

 

Hôm sau chúng tôi được tàu Mỹ vớt về đảo Guam.