Thursday, December 20, 2012


GỞI NGƯỜI NHỚ HUẾ

TÚY HÀ






 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
làm gì có Huế trong thơ nhỉ
chỉ có trong mơ mà mấy khi
được chạm nhẹ tay vào mộng ảo
hỡi ơi đã lỡ mất xuân thì

ừ thì huế vẫn trong thơ vậy
chẳng khác phù vân đùa bóng mây
gió lay cành trúc buồn thôn vĩ
mặt chữ điền đâu sương khói đầy

thôi thì cứ ngỡ câu hát ví
lơ lửng thuyền trăng ghẹo đường thi
khúc dạo nam bình ai hiểu hết
ý tình vương vấn đọng bờ mi

tịnh tâm hồ cũ sen còn nở
hay đã lụy tình dạ ngẫn ngơ
từ người quá hải sang bờ khác
hoa lá nhạt phai nước hững hờ

quanh đi quẩn lại còn đâu nữa
tím huế ngày xưa đã nhạt mờ
thôi về viết lại câu mái đẩy
đẩy nhẹ thuyền trăng nghiêng vào thơ.
 
T.H


Sunday, December 9, 2012

tro quá khứ của tình yêu


Thư Viết Từ Đường Heatherglen

PHẠM NGŨ YÊN

1.

Buổi chiều mùa đông cách đây nhiều năm, tôi rời căn phòng trọ đường Trần Hưng Đạo, Đà Lạt, gần trạm xăng Kim Cúc để gặp người bạn ở phi trường Cam Ly. Trong cái rét buốt của tháng mười hai và cái lấp lánh của nắng, những đóa Sư Nha mềm mại vươn mình trên bãi cỏ xanh màu ngọc bích. Từ màu vàng của hoa và từ những năm tháng phù hư đi về một mình trên đường phố trùng điệp sương mù và mưa bụi, tâm hồn tôi trưởng thành không kịp chờ đau khổ. Ai đó đã nói rằng đau khổ làm cho người ta khôn lớn, như nắng hoàng hôn làm cho trái sớm ngậm ngùi. Tôi đi qua những năm lính tráng bình yên nơi thành phố núi, nơi những cây anh đào mỗi năm một lần hé nụ. Nơi mùa đông làm khô lá trên các cành nhánh đường lên khu Hoa Bình. Thành phố thân thiết đến nỗi nhiều khi tôi tưởng mình sẽ không thể rời bỏ để đi, dù dưới con dốc của rạp Ngọc Lan, bến xe đò mỗi ngày huyên náo tiếng kèn xe mời gọi những cuộc lên đường.

Màu hoa giản đơn từ một góc tâm hồn đứa con trai hai mươi lăm tuổi vừa gia nhập vào đời, hôm nay ào ạt những dòng mưa lũ. Đời hoa không lớn lao, nhưng làm chật một quá khứ. Tôi biết có những tình yêu như vậy, một hôm nào em khép nép ghé qua, nhưng để lại hồn tôi những dấu giầy cháy nám hạnh phúc.

Mỗi đời sống đều ẩn trú trong nó một con đường, một góc phố. Đời sống cũng ghi nhận trên nó một dấu tích trầy trụa từ một chuyện tình buồn.

“có hoa có lá và người khóc,

em sợ ngày nao phải lấy chồng”.

Câu thơ tôi không nhớ xuất xứ. Nhiều năm tôi đọc lại vẫn với cùng y nguyên rung động xưa.

Nhưng không phải như vậy. Không phải đứa con trai nào cũng buồn khi người ỵêu đi lấy chồng. Cũng không phải mọi người con gái đều khóc trong ngày vui đời con gái (khấp như thiếu nữ vu quy nhật/ tiếu tợ văn nhân lạc đệ thì).

Những con sáo sang sông không hề nhìn ngoái lại khu vườn cũ. Ngay cả một tiếng hót trong vút làm tê điếng trái tim cũng không hề. Trên những cành mạc lan lấm tấm màu thủy chung, tình yêu vừa đi qua những dâu bể. Tôi yêu những cuộc tình lẻ loi, ướt át ngấn lệ. Trong đó hai kẻ nắm tay nhau đi về một hướng đời bất trắc.

Họ sẽ lìa nhau hay cùng sống trọn đời với nhau trong một cõi sương chằng chịt? Tất cả đều đáng được tôn vinh. Tất cả đều đáng cho chúng ta kính phục vì đó là một mặt khác của hạnh phúc.

 

2.

Những ngày này gió thổi miên man trên đường chiều mịt mùng. Có những câu chuyện mới vừa viết ra một phần đầu. Có những chuyện còn dang dở.

Tin tức trên báo chí cho hay cuộc chiến ở A Phú Hản và Iraq đang sắp sửa khép lại với sự rút quân của quân đội Hoa Kỳ. Nhưng người ta không tin một xã hội vừa nhiểu nhương súng đạn cùng chết chóc hôm qua sẽ đi vào ổn định nhanh chóng.

Đâu đây vẫn còn vang động những tiếng bom tự sát vào đám đông, vào doanh trại của chính quyền. Đâu đây vẫn còn những tiếng súng bắn tĩa của quân phiến loạn vào các đoàn xe di chuyển. Vẫn còn sự phản đối chính sách Hoa Kỳ và sự có mặt của quân đội đồng minh trên mọi thành phố. Con số thương vong của lính Mỹ vẫn còn là một nan đề nhức nhối trên chính sách đối ngoại của các đời Tổng Thống Hoa Kỳ. Nhưng người ta vẫn có quyền lạc quan về sự hồi sinh của Iraq. Ánh sáng dân chủ đang le lói ở cuối đường hầm.

Có những dự tính trùng tu lại quốc gia Iraq sau thời chiến. Nhiều nước đã lập kế hoạch  tái thiết những di tích lịch sữ và điều này hứa hẹn sẽ thu về những số tiền khổng lồ. Một trong những di tích quan trọng là khu vực Al Qurna. Một vùng mà các nhà khảo cứu và ngay cả Kinh Thánh đều tin đó là nơi mà Thượng Đế đã lập ra vườn Địa Đàng. Từ nơi đó, Chúa đã tạo dựng ra hai người đầu tiên của nhân loại là ông Adam và bà Eva.

Cách đây nhiều ngàn năm Al Qurna là một vị trí quan trọng trong Cựu Ước. Bây giờ nơi đó đã hoang phế. Những viên gạch lát đường nứt vỡ và những lòng giếng khô cạn không còn nước. Những bờ tường lỗ chỗ dấu đạn. Những thập niên chiến tranh với Iran để củng cố chế độ, Saddam đã tàn sát cư dân sinh sống quanh đầm lầy nằm sâu trong vùng Al Qurna- là dân Marsh Arabs (dân Á Rập Đầm Lầy)- mà truyền thuyết cho rằng đó là hậu duệ của người Sumeria và Babylon. Chính nơi đây, giữa vùng Lưỡng Hà, nơi hai con sông Tigris và Euphrate chạy ngang qua bình nguyên Mesopotamia, mà mẫu tự Alphabet được sáng tạo và những bài trường ca anh hùng được hát lên. Chính nơi đây con người đầu tiên biết săn thú trồng trọt hoa màu. Những ngày của chúng ta được chia làm 24 giờ và chính nơi đây, tình yêu đầu tiên mọc lên để rồi sau đó kéo theo những đau khổ triền miên của con người.

Chính nơi đây, từ chiếc xương sườn của người đàn ông đầu tiên, Chúa đã dựng nên người nữ đầu tiên- Mẹ của loài người.

Chính nơi đây mà nước mắt và sự gian dối đã đươm hoa. Những tấm lòng rắn rít và nanh vuốt muông sói đã kèn cựa với trái tim cừu non nhân hậu. Những cây ô liu và những cây tật lê lớn lên cùng với cây vả.

Bây giờ nơi đó không còn sót lại một chút gì để gợi lại trong lòng chúng ta một bối cảnh nhân bản từ những trang Kinh Thánh ghi lại thời Sáng Thế. Và lịch sữ đã từng được Thánh hóa cũng bị soi mòn. Cây khuynh diệp linh thánh (cây Eucalyptus, còn gọi là cây bạch đàn) đã khô khốc và chết tự đời nào. Người ta gọi đó là Cây Adam, vì dưới nhánh cây nầy lần đầu tiên Adam nói chuyện với Đức ChúaTrời: ”Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn, nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến, vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết” (Sáng Thế Ký đoạn 2 câu 17).

Mọi thứ đều khép lại cùng với quá khứ. Mọi thứ đều chôn lấp theo quá khứ.

Khi chúng ta đi dưới những hàng cây khô đầy lá úa mùa thu hay dưới sương mù rũ rượi làm ướt át mái đầu, điều gì đã làm cho chúng ta yêu mến đời sống này thêm lên? Đó là mùi vị và hương phấn của quá khứ. Đó là những nhịp rung nồng nàn từ trái tim và là hơi thở cũng se sắt những điều tình tự.

3.

Nhiều chục năm sau, chúng tôi là một trong những kẻ già nua sau một cuộc đổi đời. Từ một tầng lầu cao của khách sạn Holliday Inc. Chúng tôi nhìn xuống con đường đang tàn dần bóng nắng. Nàng ngồi tì tay vào lan can, mái tóc bay hồn nhiên như những ngày chưa có bão. Chai nước suối để trước mặt, và bên cạnh ly Martini uống chung. Mùa đông không rực rỡ một màu nắng, nhưng lòng chúng tôi đang bốc cháy nỗi đam mê. Qua vai nàng, tôi thấy tình yêu không có tuổi và hạnh phúc đậu xuống tựa một cánh chim. Những ngón tay vẫn trau chuốt tiệp với màu son trên môi. Phải chi đời sống không đúc kết bằng những phiền lụy vật chất và người ta yêu nhau trong một bối cảnh của một truyện thần tiên? Người ta sẽ sống bằng không khí và ánh sáng. Bằng mùi thơm của hương hoa và mưa bụi đất trời.

Mới vừa đây chúng tôi vừa trôi giạt trên hai nhánh sông buồn. Bây giờ chúng tôi quấn qúit với nhau như hai khóm lục bình run rẩy. Tự mỗi người, đều cảm thấy nên cất giấu những hư hao như cất giấu những món đồ phế liệu. Và chỉ nên bổ sung vào đó, những giọt nước mắt tàn lụn bốc hơi từ những hốc mắt buồn đau- thành những hạt muối làm vị mặn cho đời.

Đêm sẽ đến trong chốc lát và những ngọn đèn xe hơi sẽ có dịp sáng lên. Như trái tim sáng lên trong lồng ngực lạnh lẻo.

Tháng chin vừa qua tôi đưa nàng về San Antonio để thi Quốc tịch. Mùa đông còn lâu mới trở về nhưng hai bên đường đã có vài vạt cỏ vàng úa và buổi sáng có hơi nước ràn rụa trên mặt kính xe.

Một ngày nào đó nàng sẽ xa tôi vì đâu có gì tồn tại trên cuộc đời này? Tình yêu lại càng không thể dài lâu khi con tim đã chạm đủ đau buồn. Tôi biết như vậy và cảm thấy an lòng chờ đợi những biến động. Bên cạnh tôi, nàng ngồi lặng yên nhìn ra những đời xe nối đuôi nhau chạy về phía nam của con đường 35. Cây cối không còn màu xanh nhiều như những tháng vừa qua bây giờ chìm khuất đâu đó ở một dãy phố. Những ngôi nhà cao tầng bao quanh điện Capitol nằm chính giữa sáng nay đã bị những đám mây màu chì che lấp. Cảnh vật vừa mang một dáng vẽ lãng mạn, vừa pha một chút buồn rầu. Khi người ta mang trong trái tim mình một tình yêu, người ta sẽ không thấy mình già. Tôi đang có triệu chứng trẻ lại vì tình yêu nàng đang dành cho tôi? Lâu rồi, những góc phố vắng những trạm xăng huyên náo bên đường. Người ta hạn chế một vài chi tiêu không cần thiết vì nền kinh tế kiệm ước. Đời sống căng chật những nhu cầu trong khi hãng xưỡng chưa kịp trở mình.

Dù sao, tôi cũng sẽ tìm mua cho nàng một món quà nhân ngày sinh nhật. Tình yêu không nhất thiết phải hiện hữu những vật chất. Nhưng tình yêu sẽ bị phai nhạt vì thiếu vắng vật chất.

3.

Cách đây không lâu, có tin từ báo chí trong nước than phiền là đa số thanh niên trong nước- nhất là tại Hà Nội bây giờ không còn biết đến hai tiếng “cám ơn” và lời “xin lỗi”. Báo Lao Động cho biết như vậy. Và cho đó là hậu quả tất yếu vì sự thay đổi của nền kinh tế thị trường. Tức là nguyên nhân đến từ kinh tế chứ không phải đến từ nền giáo dục suy đồi.

Những năm tôi còn ở Việt Nam, chờ ngày ra đi, tôi đã biết những câu chuyện “tử tế” như vậy. Tôi đã biết chung quanh tôi, những em nhỏ đến trường mang trên vai khăn quàng đỏ với lòng kiêu hãnh làm cháu ngoan của bác thay vì kiêu hãnh làm con cháu của Trần Quốc Toản, Trần Bình Trọng. Tôi đã biết bằng tai nghe và mắt thấy, là để được vào đại học, học sinh không cần thông thuộc bài học trường lớp mà chỉ cần nhuần nhuyễn chủ thuyết Mác Lê. Họ chỉ cần mang tấm lòng Pavin vào đời (thép đã tôi thế đấy) thay vì tấm lòng của Mẫn Tử Khiên. Họ không biết đến Carnot. Không biết đến thầy Tử Lộ. Họ chỉ biết đến Nguyễn Văn Trổi và Võ Thị Sáu. Họ đã trồng người trên một thửa đất đầy căm thù giai cấp và ươm những tâm hồn thơ ngây bằng nấm độc được hái dọc đường Trường Sơn. Những con người họ trồng với những chất liệu như vậy, không cần trăm năm như lời bác dạy, chỉ cần vài chục năm, họ đã có kết quả.

Ở Việt Nam bây giờ, đang có rất nhiều Phù Đổng xuất thân từ Khu Dân Sinh

và chợ Cầu Ông Lãnh. Những Phù Đổng một sớm một chiều lớn lên không phải bằng nồi cơm tri thức mà bằng những nồi cơm được trộn với ma túy và thuốc lắc. Những Phù Đổng không phá nổi giặc Ân nghèo đói, nhưng cúi mặt trước những sức mạnh đến từ Bắc Kinh.

Qua mất rồi Hà Nội thanh lịch và con sông Hồng lộng lẫy chảy qua những cửa ô. Qua mất rồi những trái tim hồn nhiên của Loan và lãng mạn của Dũng. Của “đêm qua Hà Nội dáng kiều thơm...”

Khi tôi còn là học sinh Trung Học, trong lớp tôi có những người bạn gái là dân Hà Nội chính thống. Tâm hồn của họ ngày đó sao thơm những hoa ngâu hoa sói. Tâm hồn của họ bồng bế những bình minh mùa xuân và ngậm ngùi mùa hạ:

“Tình cô là đóa hoa đơn

Bình minh nở để hoàng hôn lại tàn”

(Nguyễn Bính)

Những tấm lòng thiếu nữ của họ ngày đó rất chân thật, rất nồng nàn. Như  họ sinh ra để bổ sung thêm cho cuộc đời này những má hồng môi thắm:

Hôm qua em đi tỉnh về

Đợi em ở mãi con đê đầu làng

Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng

Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi

Nào đâu cái yếm lụa sồi

Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang sông

Nào đâu cái áo tứ thân

Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen ...

Và:

Nói ra sợ mất lòng em

Van em em hãy giữ nguyên quê mùa

Như hôm em đi lễ chùa

Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh

Hoa chanh nở giữa vườn chanh

Thầy u mình với chúng mình chân quê

Hôm qua em đi tỉnh về

Hương đồng cỏ nội bay đi ít nhiều…

 

Hay thơ của Quang Dũng:

Tiền nước trả em rồi, trưa nắng gắt

Tôi yêu em mà em đâu có hay…?

 

Và từ những ngày tháng êm đềm đó, tôi đã để lòng tương tư những cô gái Bắc. Như Nguyễn Bính. Tôi con trai miền Nam yêu vô vọng những cô gái Bắc Kỳ kiêu hãnh. Những “sư tử Hà Đông” tương lai và những “Hoạn Thư “ tân thời của thế kỹ sẽ mãi đi vào trái tim khờ dại của tôi, cho đến ngày tôi thi rớt, vào lính.

Nếu những thanh niên thiếu nữ Hà Nội không nhớ, hay quên dần dà hai tiếng “cám ơn” và lời “xin lỗi” thì tôi sẽ buồn ghê gớm. Tôi sẽ làm sao để không thổn thức về những tình yêu đi qua những năm tháng thanh xuân. Làm sao để hướng lòng cho đủ về những nụ cười làm rạng rỡ trái tim giữa rét căm Hà Nội, khi em là một cô bé chạy tung tăng một mình, năm cửa ô lùi lại sau lưng. Vạt áo tứ thân và đôi guốc mộc nhạt nhòa giữa lá cỏ trong khi mắt em cười dưới hồn nhiên của nắng

“Hoa sửa vẫn nồng nàn đậu phố đêm đêm

Có lẽ nào anh lại quên em?”

Câu thơ của ai viết về hoa sửa?

Tôi không biết hoa sửa là hoa gì và màu sắc như thế nào? Nhưng nói đến hoa sửa là người ta nghĩ về Hà Nội. Chỉ có Hà Nội mới có nhiều hoa sửa. Cũng như con gái Hà Nội luôn thanh lịch 36 phố phường. Có lẽ nào nhân cách của những tấm lòng thiếu nữ Hà Nội lại xuống cấp, để trái tim tôi đau đớn như ngày nào tôi đã từng đau đớn, vì một tình yêu đã gẫy.

4.

Bạn sẽ hỏi tôi làm thế nào để yêu mến được quê hương của tôi? Tôi xin trả lời là không ai có thể tự mình yêu hay ghét được một quê hương. Chuyện yêu hay ghét, không phải là một quán tính thông thường như yêu một cái áo hay một viên kẹo. Tình yêu đó như hơi thở, như không khí quanh ta mỗi ngày. Nó trộn lẫn trong trái tim ta bằng những nhịp đập của đất đai, của núi đồi, sông biển. Nó không thể bị đồng hóa hay bị vỗ ngực xưng tên. Nó không thể bị đánh lừa bằng chủ thuyết.

Quê hương của tôi không còn là chùm khế ngọt của Đổ Trung Quân, để tôi trèo hái mỗi ngày. Dù Việt Nam bây giờ vẫn còn nhiều những cây khế, nhưng chắc không còn tươm mật ngọt ngào. Những cây khế không còn quyến rũ những con quạ phương xa để quay về ngậm trái trên cành và trả lại một túi ba gang đầy đô la xanh đỏ.

Người ta, nhân danh kẻ thắng trận, đã lấy mất trong hồn tôi nhịp đập hào phóng của đất đai từ những ngày tháng tư. Họ đã ngăn chận những dòng chảy bình an và phì nhiêu của sông không cho thoát ra ngoài biển cả. Chỉ còn lại cánh đồng Việt Nam còn trơ gốc rạï còi cộc và những bông lúa lép bên đường...

PNY

Wednesday, November 28, 2012


NGÔ ĐÌNH LỆ THỦY, HỒNG NHAN MỆNH YỂU

KIM THANH

 

Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương

(Đoạn Trường Tân Thanh)

Gửi thầy Đỗ Hữu Nghiêm, cựu JECU

 
Niên khóa 1962-63, tôi học năm cuối của chương trình Cử Nhân Giáo khoa Văn Chương Pháp tại trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Còn nhớ cùng lớp tôi lúc ấy có nhạc sĩ Hùng Lân, người hiền lành, dễ mến, như một thầy tu, thỉnh thoảng nổi hứng bất tử ngồi lén ghi nốt nhạc ngay tại chỗ, trong lúc thầy giảng bài. Có bà sơ Phạm Thị Nhâm, mà tôi thường hỏi mượn cua mỗi lần trốn học đi chơi, sau trở thành hiệu trưởng trường Nữ Thánh Tâm Nha Trang, và đã nhận ra tôi ngay khi vừa thấy tôi lò dò đến trường xin dạy. Có Đặng Tiến, da vàng ủng như người bị sốt rét kinh niên, tóc bờm xờm không chải, nói tiếng Pháp đặc giọng Quảng Nam, trước 75 ở phòng tùy viên Tòa đại sứ VNCH tại Thụy Sĩ, đào ngũ qua Pháp sống cho đến bây giờ, chuyên viết báo nịnh hót Cộng sản và phê bình gia văn chương có hạng. Có Đại úy Bộ Binh Ngô Văn Minh, sau lên chức Đại tá Tham mưu trưỏng Quân Đoàn III, Biên Hòa. Có Wang Seng, cô bạn Tàu, Bùi Thế Cần, Lương Thị Nga, Thái Thị Nhân, Lê Thị Bích, Thái Tuyết Lê, Lê Thị Ngọc Loan, và Irène Công Huyền Tôn Nữ Phụng Tiên -đồng hương Nha Trang và đồng môn trong lớp Latin của M. Le Menn- tất cả đang ở Pháp. Có Nguyễn Nương Minh Châu, sau thành vợ Bác sĩ Đinh Hà, cả hai là cựu JECU (viết tắt của Jeunes Etudiants Catholiques Universitaires, Thanh Sinh Công Đại Học), đang sống rất thầm lặng tại một nơi nào trên đất Mỹ.

Đầu niên học, từ lầu ba, tôi và Bùi Thế Cần (học giỏi nhất lớp, con của dân biểu Bùi Tuân, Huế) hay xuống lầu một, vào giảng đường Dự Bị, để tìm người quen giữa đám nai vàng ngơ ngác, hay đúng hơn tuyển mộ tân binh cho JECU. Lúc ấy, Cần là trưởng JECU Liên Trường, Nguyễn Ánh Tuyết (con trai), thư ký, còn tôi, trưởng Nhóm Văn Khoa Pháp. Một hôm, tôi thấy đứng trước cửa giảng đường một sĩ quan mang ba hoa mai bạc, đầu đội béret đỏ, tay cầm một xấp cua. Ông dáng cao gầy, vẻ tươi cười. Gặp ông, tôi khẽ gật đầu chào, và ông lịch sự chào lại. Có người cho biết, đó là Đại tá Cao Văn Viên. Mấy năm sau, ông lên tướng, trở thành xếp quá lớn của tôi, và lấy bằng Cử Nhân Pháp. Có kẻ xấu mồm nói, ông nhờ người đi học và đi thi thay cho ông. Tôi không tin. Vì ở Văn khoa Pháp, thầy cô không phát cua, phải vào lớp ghi chép hoặc mượn ai, và kỷ luật thi cử lúc bấy giờ khá gắt gao, ít sinh viên, lại phải thi oral, thầy trò biết mặt nhau hết, rất khó gian lận.

Vào trong giảng đường, Cần và tôi ngồi lẫn lộn với đám tân sinh viên, nghe cha Cras giảng về Socrate và Hégel hay thầy Kiết dịch tiếng Pháp ra tiếng Việt mà phát mệt trở lại. Một hôm, chúng tôi thấy Yvonne Lan Hương, cô bạn trong JECU, học dưới một lớp, đang ngồi trò chuyện với một cô. Bèn sà đến. Yvonne giới thiệu, đây Thủy, Ngô Đình Lệ Thủy. Lần đầu gặp cô, chúng tôi không nói gì hơn ngoài vài câu xã giao thông lệ.

Về sau, khi Lệ Thủy gia nhập JECU Văn khoa Pháp, tôi tiếp xúc với cô thường hơn, nhưng thường chỉ để thông báo ngày và chương trình họp của Hội. Cô có dáng thanh thanh, vẻ thùy mị, thông minh, ít nói, ít cười, đôi mắt linh hoạt, khuôn mặt hơi vuông, cằm hơi nhọn, tóc dày, cài bandeau trắng hoặc đỏ. Chúng tôi nói tiếng Pháp với nhau, cho nên bây giờ tôi không biết cô nói tiếng Việt ra sao, giọng miền nào. Đó là một điều mà sau gần nửa thế kỷ, già đi, nghĩ lại, tôi thấy “dị hợm”, mắc cỡ, mặc dù do thói quen, giống như các em Việt Nam hiện tại ở Mỹ nói chuyện bằng Anh ngữ, chứ chẳng vì “snobisme”, thời thượng, lòe thiên hạ. Lệ Thủy thường mặc váy đỏ, áo sơ mi trắng đi học, đôi khi cả đồng phục Thanh Nữ Cộng Hòa. Nói chung, cô khá đẹp, nhưng không lồ lộ, sexy như Irène, không tươi lộng lẫy như Lương Thị Nga. Một sắc đẹp trang nhã, đài các. Tôi để ý, cô ở đâu là luôn luôn có hai anh chàng gorilles (hộ vệ), giả dạng sinh viên, ngồi phía dưới, cách cô một dãy bàn, nhìn chòng chọc vào mọi người.

JECU Văn Khoa Pháp lâu lâu ra một tờ Bản Tin (Bulletin), bằng tiếng Pháp, do Bùi Thế Cần, Ánh Tuyết, Minh Châu và tôi viết gần hết, vì không ai gửi bài. Trong đó, thỉnh thoảng có đăng một vài bài thơ tình lẩm cẩm của tôi, không đối tượng, chỉ là gửi gió cho mây ngàn bay, mà bây giờ tôi còn nhớ lõm bõm vài câu:

Je veux tremper mes lèvres

Dans l' eau pure de ton coeur

Et émerger frissonnant

D' une aube de lumière...

(Anh muốn nhúng môi anh

Vào nước tinh tuyền tim em

Và bừng lên run rẩy

Dưới ánh sáng bình minh…)

hay những câu dịch của John Keats, hoặc Tennyson, đại khái:

Ce n'est pas toi que je regrette

C'est le rêve par toi brisé

(Không phải em mà anh tiếc nuối

Mà giấc mơ vì em vỡ tan)

Lệ Thủy đọc xong, mày hơi nhíu, bảo tôi, nghiêm trang như một cô giáo la rầy học trò: "Je n' savais pas que tu es si romantique. Les poèmes d’amour, ça c’est vraiment beau, mais ils désespèrent aussi" (tôi không biết anh lãng mạn dữ thế. Những bài thơ tình hay thật, nhưng cũng làm người ta tuyệt vọng). Tôi khoát tay, ấp úng chối tội như ăn vụng bị bắt quả tang: “Un peu, oui, j’ n’ les ai faits que pour m'amuser. Rien de sérieux!” (Chút chút, đúng, tôi chỉ làm để chơi vui thôi mà. Không có gì quan trọng!).

Lệ Thủy không bao giờ đến CLB Phục Hưng để họp, ngoại trừ một lần, tôi nhớ, tham dự thánh lễ đầu tháng cho toàn JECU do cha Pineau cử hành, rồi về ngay sau lễ. Chúng tôi chỉ gặp nhau tại giảng đường Propédeutique, trong giờ nghỉ giải lao, năm sáu đứa ngồi cuối phòng, có khi tại bàn của Lệ Thủy, thảo luận, hay trao đổi vài thông tin cần thiết. Hai anh chàng gorilles, chắc đã được báo trước, đứng xa xa hút thuốc, để chúng tôi yên.

Một ngày thứ bảy, JECU Liên Hội tổ chức đi thăm trại cùi và nhà thương điên Chợ Quán. Mỗi người góp mười đồng, làm chi phí lặt vặt, và ăn trưa. Số tiền không nhỏ, hơn ba tô phở vào thời ấy, đối với ngân quỹ khiêm tốn của sinh viên còn lãnh lương cha mẹ. Lệ Thủy đưa cho tôi một trăm đồng, trước mặt Cần, nói là tiền của “maman cho Hội”, nhưng “tiếc là Thủy bận việc bên Thanh Nữ Cộng Hòa, không đi với tụi toa được”. Tôi nhận tiền, cám ơn, rồi nói nhỏ vào tai Cần: “Như thế cũng hay. Có Thủy tham gia, hai gorilles phải theo, phiền phức, mà trông ngứa mắt lắm!”

Hôm ấy, tất cả chúng tôi, khoảng bốn chục người, chia nhau lên hai xe buýt, tuyến đường Chợ Bến Thành-Trần Hưng Đạo. Hoặc tự túc, có xe hơi riêng, như hai chị em Anh Thư, Hạp Thư, hay “đại ca” Dược sĩ Hoàng Ngọc Tuệ. Tổ y tế gồm các sinh viên Y khoa, trang bị ống nghe và túi cứu thương, do Đinh Hà hướng dẫn, làm công tác khám bệnh, phát thuốc. Tổ ăn uống do Rosa điều động. Tổ văn nghệ gồm một cây guitare và một số ca sĩ mầm non, do các cô bên Dược phụ trách, trong số có Yvette Trương Tấn Trung, đang ở Pháp. Bùi Thế Cần làm tổng tư lệnh, Nguyễn Ánh Tuyết phụ tá.

Đầu tiên chúng tôi thăm nhà thương điên. Toàn đàn ông. Vài ông, tóc dài rũ rượi, biểu diễn nhiều màn rất… điên, như xé áo xé quần, rú lên những tràng cười kinh dị, khiến các cô sợ quá, mặt mày tái mét. Nhưng đa số hiền lành đứng nhìn chúng tôi đi qua, vẻ thẫn thờ, ngây dại. Tôi cười, chào, hỏi thăm, họ vẫn vô cảm. Rồi cả toán chuyển sang thăm trại cùi. Thói quen nghề nghiệp, Đinh Hà phát sẵn mấy chai alcool, để tùy nghi. Bệnh nhân rất đông, sống theo khu, gồm cả con nít, trông rất tội nghiệp. Tôi không lạ với cảnh này, vì gần xóm tôi ở Nha Trang, khu Lạc Thiện, cũng có một trại cùi do các tu sĩ dòng Franciscains sáng lập và đảm nhiệm, nhưng lúc ấy tôi còn nhỏ, chỉ là một khán giả bàng quan, đi ngang tò mò đứng nhìn vào qua những vòng rào kẽm gai dày. Bây giờ, lần đầu tiên có dịp thấy tận mắt những thân hình gầy còm, lở lói, những bàn tay, bàn chân co quắp, hoặc mất ngón, những cặp mắt mờ đục, mù lòa. Và lòng dâng tràn một niềm cảm thương vô hạn. Tổ y tế bắt đầu khám, phát thuốc cho những bệnh nhân cùi bị cảm cúm, đau đầu, sổ mũi, do trưởng trại giới thiệu, yêu cầu. Các cô tập họp những cháu bé lại, phát kẹo, tập chúng hát theo nhịp đàn guitare của Nguyễn Ánh Tuyết, vỗ tay, rồi cười lớn tiếng với nhau. Vài cháu chưa bị nhiễm bệnh, mặt mày trông rất sáng sủa, thông minh, phải theo sống chung với cha mẹ.

Tháng sáu 1963, mãn trường. Bùi Thế Cần, Nguyễn Nương Minh Châu đậu Cử Nhân liền một khi. Tôi rớt oral chứng chỉ Văn chương Quốc âm, bắt buộc cho sinh viên Văn khoa Pháp-Anh, vì trong buổi thi vấn đáp với giáo sư Vương Hồng Sển tôi không nhớ Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị ông nào theo Tây, ông nào chống Tây, và đem thơ ông này cắm vào cằm ông kia. Với giáo sư Bửu Cầm, kết quả còn tệ hơn, tôi không biết chiết tự bốn câu thơ chữ Nôm của thi sĩ Tuy Lý Vương, đứng chịu chết như Từ Hải, nhìn thầy cười cầu tài. Phải thi lại hai môn vấn đáp này. Còn những nàng tiên nga “trong đám xuân xanh ấy”, mà tôi đã kể tên ở trên, chưa có ai “theo chồng bỏ cuộc chơi”, như trong thơ Hàn Mặc Tử, nhưng đã lần lượt đi du học Pháp một cách lặng lẽ từ năm thứ hai, thứ ba. Cần ra Huế, tôi về quê Nha Trang, dạy tại Collège français môn Việt văn cũng nhờ cái chứng chỉ Văn chương Quốc âm khó ác ôn ấy.

Không bao giờ tôi gặp lại Lệ Thủy, đã biến mất, từ ngày cô tặng JECU chúng tôi một trăm đồng. Tôi biết cô cũng đã đậu Propédeutique, qua bản niêm yết dán trước của trường, với tên chính thức, đầy đủ: Anne-Véronique Ngô Đình Lệ Thủy, sinh năm 1945. Chiến sự mỗi ngày leo thang. Khủng hoảng chính trị gia tăng. Sinh viên và Phật tử xuống đường hàng ngày. Cảnh sát dàn chào với dùi cui, lựu đạn cay. Những tờ báo chui chửi thậm tệ chế độ. Làm tôi rất quan tâm vì, qua Lệ Thủy, cảm tình của tôi với cụ Diệm rất sâu nặng, không như một vài bạn JECU khác. Tôi lờ mờ hiểu rằng thế nào bàn tay lông lá của người Mỹ cũng đã nhúng vào nội bộ Việt Nam. Nhưng tôi tin tưởng và cầu mong cụ Diệm sẽ vượt qua hết như lần đảo chánh hụt 1960. Thời gian sau đó, nhiều biến cố xảy ra, dồn dập. Lựu đạn nổ tại đài phát thanh Huế. Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu. Nữ sinh viên Quách Thị Trang biểu tình bị cảnh sát bắn chết tại chợ Bùng Binh Sài Gòn. Rồi đảo chánh. Ngày 2/11/1963, nghe tin hai anh em cụ Diệm bị giết, ba tôi chảy nước mắt và trong giờ kinh tối ba bắt cả nhà đọc thêm kinh cầu hồn cho hai cụ. Còn tôi tự nhiên thấy buồn vô hạn, suốt mấy bữa, mặc dù chưa hề lãnh được một tí ơn mưa móc nào từ chế độ.

Lúc ấy Lệ Thủy đang ở ngoại quốc với mẹ trong chuyến công du giải độc. Liền sau đảo chánh, các phản tướng chia nhau tiền thưởng của CIA, nhảy đầm thả giàn, phá bỏ các ấp chiến lược. Báo chí, sách vở (của anh chàng Hoàng Trọng Miên nào đó chẳng hạn) mở chiến dịch bôi nhọ gia đình họ Ngô, và bà Nhu, Lệ Thủy cũng bị dính miểng. Nào là bà Nhu có một chiếc ghế khích dục, trong dinh Độc lập, nhưng sự thật đó chỉ là chiếc ghế làm răng thường thấy trong phòng nha sĩ. Nào là ông Nhu bất lực. Nào là bà Nhu tư tình với cụ Diệm, với ông tướng này, ông tướng nọ. Nào là Lệ Thủy có nhiều bồ, kể cả một anh người Nhật, Lệ Thủy thất tình, học Văn Khoa, chỉ ghi danh, không đến lớp mà cũng có bằng, v.v… Tôi đọc và thấy buồn nôn. Vô lý quá, vậy mà dân chúng ít học hoặc quá khích vẫn tin, thế mới kỳ lạ. Thì cũng giống như dân quê miền Bắc mười mấy năm sau, đã ném đá vào sĩ quan cải tạo chúng tôi một cách thật tình, nguyền rủa chúng tôi là “quân mọi rợ giết người, ăn thịt con nít, hiếp dâm phụ nữ.”

Công việc và đời quân ngũ làm tôi quên Ngô Đình Lệ Thủy. Kỷ niệm với JECU những ngày có cô cũng dần phai theo thời gian.

2. Cho đến đầu năm 1967. Bốn năm sau. Tôi được tăng phái cho Tiểu đoàn 4/44 Bộ Binh trong chiến dịch Bình Định Nông Thôn tại quận Thiện Giáo (Ma Lâm cũ), nổi tiếng nguy hiểm, thuộc tỉnh Phan Thiết. Ngày đi hành quân tìm địch, qua các thôn xóm, đêm đóng quân ven rừng, mắc võng giữa hai thân cây nằm nghe tiếng đại bác ầm ì xa xa, nhìn hỏa châu từng hồi loé sáng trên ngọn Tà Dôm, mà thương cho kiếp lính tráng nay đây mai đó, trực diện cái chết cận kề. Một buổi trưa, tôi đang nói chuyện với ông Đại úy Tiểu đoàn trưởng, một viên đạn rít ngang nón sắt, cách đầu tôi một đường tơ, xuyên ngay cổ binh nhất H., mang máy truyền tin PRC 25 đứng gần đó, làm anh gục chết tại chỗ. Tên du kích bắn sẻ vụt bỏ chạy, bị lính Tiểu đoàn rượt theo và lãnh trọn một tràng carbine, phơi thây. Một người lính, bà con của H., giận dữ chửi thề và muốn xẻo tai tên này để trả thù, tôi phải khuyên ngăn mãi, mới thôi. Cảnh tượng quá thảm cho bên này, bên kia. Tôi nghĩ thêm, những người lính chiến miền Nam, hơn ai hết, là những người thực sự yêu chuộng hòa bình, và vì yêu chuộng hoà bình họ phải hy sinh mạng sống đánh đuổi giặc xâm lược từ Miền Bắc. Nếu phải chống đối chiến tranh thì họ mới là những người có quyền lên tiếng trước tiên, chứ không phải những anh làm thơ, làm nhạc ấm ớ ở hậu phương, sợ chết, trốn quân dịch, núp bóng các ông sĩ quan văn phòng cao cấp mê văn nghệ, để mà gào thét ngưng chém giết, nối vòng tay lớn, tay nhỏ. Rồi tại sao lại phản chiến một chiều? Tại sao không ra Bắc kêu gọi Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp ngưng gây hấn và tấn công miền Nam? Tại sao chỉ to mồm lên án miền Nam là nơi đã cho họ cơm ăn, áo mặc, tự do sáng tác, tự do phản bội? Bao nhiêu câu hỏi cứ lẫn quẫn trong tôi, cho mãi đến hôm nay, khi những dòng nhạc dòng thơ góp phần làm mất nước ấy vẫn còn được yêu chuộng, mê man, và các tác giả được thổi bằng ống đu đủ lên tận mây xanh.

Trở lại với Ngô Đình Lệ Thủy. Một ngày cuối tuần và cuối tháng 4, 1967, tôi cùng với vài sĩ quan bạn được phép lên Phan Thiết, cách Thiện Giáo khoảng mười lăm cây số, để nghỉ xả hơi qua đêm, và nhậu bia. Tại quán bánh căng “còn ướt sền sệt”, chúng tôi gọi mỗi người hai tô, mỗi tô hai mươi lăm cái, đổ đầy nước mắm, ăn cho bõ những bữa cơm sấy, đồ hộp ngán đến tận óc. Tôi mua một tờ nhật báo, và giật mình đọc tin Lệ Thủy đã chết trong một tai nạn xe hơi tại Pháp, chính xác tại Longjumeau, vùng Essonne, ngoại ô Paris. Chết tại chỗ. Lúc ấy cô vừa hai mươi hai tuổi. Bài báo kể, ban đêm, cô lái xe nhỏ và bị một camion ngược chiều húc thẳng, đầu xe của cô nát bấy. Sau này, đọc trên tờ Time, số Friday April 21, 1967, thấy cũng đăng đúng tin ấy.

Mặc dầu tình cảm của tôi đối với cô, và ngược lại, chưa bao giờ thắm thiết, gắn bó, đong đầy, đủ để những giọt lệ trào dâng chan chứa, như trong mắt nàng kỹ nữ Tầm Dương làm đẫm vạt áo xanh của người Giang Châu Tư Mã thuở trước, tôi vẫn thấy bàng hoàng, xao xuyến. Tôi bỏ dở bữa nhậu đã bao lâu chờ đợi, ngồi thừ người, nghĩ đến những kỷ niệm thời sinh viên, JECU, những buổi họp, những bài thơ tình lẩm cẩm và lời phê bình nặng ký của cô, một trăm đồng “maman cho”. Đêm về, qua cửa sổ khách sạn, tôi nhìn trời xanh thẳm không gợn mây và nửa mảnh trăng mới mọc vàng úa trên ngọn núi Tà Dôm mà nhớ câu thơ của Mạc Đĩnh Chi khóc nàng công chúa Tàu:

Y! Vân tán, tuyết tiêu / Hoa tàn, nguyệt khuyết

(Ôi! Mây tản, tuyết tan / Hoa tàn, trăng khuyết).

3. Hai tháng sau, tôi được lệnh thuyên chuyển đi Qui Nhơn. Tôi đáp chuyến bay Air VN đến Sài Gòn trước, dự trù ở chơi vài hôm, rồi về Nha Trang nghỉ phép một tuần, trước khi ra Qui Nhơn đáo nhậm đơn vị mới. Hành trang là túi ba lô và cây carbine đeo vai, cây Colt bên hông, và bộ quân phục mặc trên người. Trong chuyến bay có một số sĩ quan trẻ từ các đơn vị tác chiến về, cũng trang bị tận răng như tôi, báo hại các cô tiếp viên phải gom hết súng lại, đem cất đi một nơi phía sau phi cơ. Tại phi trường Tân Sơn Nhất, đang đứng chờ taxi, tôi bất ngờ thấy Thái Tuyết Lê cũng từ chuyến Air France xuống. Tôi hỏi dồn:

- Tuyết Lê phải không? Toa về từ Pháp? Không ai đón sao?

- Không, moa không báo trước ngày giờ, muốn dành ngạc nhiên cho gia đình.

Tuyết Lê, người Huế, cựu JECU mặc dầu ngoài Công giáo, là em bà chủ tiệm kem Phi Điệp, chợ Bến Thành-Trần Hưng Đạo, du học Pháp từ năm thứ ba Văn Khoa. Tay bắt mặt mừng, tôi mời Tuyết Lê đi chung chuyến taxi về thành phố. Trong xe, Tuyết Lê nhìn tôi đăm đăm, tấm tắc khen, “toa trông đen, nhưng có vẻ nam nhi, hùng dũng, khác với hồi còn là thư sinh” .“Dĩ nhiên, tôi vênh mặt đáp, bắt chước nghệ sĩ Hùng Cường, lính mà em!” Cả hai cùng cười vui.

Câu chuyện xoay quanh bạn cũ bên đó, bên này, và tôi được biết Irène Phụng Tiên học ở Grenoble, quê hương của Stendhal, tác giả mà tôi yêu mến từ thời còn học tại Jean-Jacques Rousseau. Rồi cái chết của Ngô Đình Lệ Thủy. Đổi sang tiếng Pháp, để tài xế taxi không nghe hiểu, Tuyết Lê kể:

- Tại Paris, tụi moa có đi viếng xác Lệ Thủy và dự lễ cầu hồn và đưa nó ra nghĩa trang. Đầu Lệ Thủy bị kính trước cắt gần lìa cổ. Khi liệm, được khâu lại và quàng bằng chiếc khăn lụa màu thiên thanh, trông mặt nó đẹp quá, thanh thản như một thiên thần. Bà Nhu từ Rome bay sang, ôm xác con mà khóc ngất, khiến tụi moa cũng khóc theo. Chiếc xe bị nạn là chiếc Peugeot còn mới do Tổng giám mục Ngô Đình Thục mua cho Lệ Thủy. Tài xế xe poids lourd không việc gì cả, bị thẩm vấn qua loa, rồi cho về.

Tôi hỏi:

- Lệ Thủy học môn gì ở Paris?

- Trường Luật.

- Tụi toa có gặp Thủy lần nào trước đó?

- Thỉnh thoảng. Thủy vẫn gentille (dễ thương) như trước kia.

Tôi bỗng thở dài:

- Tội nghiệp nó quá! Đúng là hồng nhan bạc phận!

Xe ngừng trước tiệm kem Phi Điệp. Tuyết Lê giành trả tiền, mời tôi vào chơi, ăn kem.

Nhưng tôi thoái thác, “thôi, toa mới về, cần gặp gia đình, để dịp khác”, rồi vác túi ba lô và cây súng lững thững bước đi, gọi xích lô chở về nhà ông bác họ ở đường Nguyễn Trãi.

4. Nếu còn sống, năm nay Lệ Thủy cũng đã 66 tuổi. Quá khứ xa rồi, nhưng khi ngồi viết bài này, tôi vẫn thấy lòng bồi hồi, bởi kỷ niệm. Tôi vẫn nhớ lời cô “la rầy” tôi một lần về những bài thơ tình làm tuyệt vọng. Và hôm nay tôi sửa lại câu thơ ngày đó:

C’est bien toi que je regrette

Ce n’est pas le rêve par toi brisé

(Chính em mà anh tiếc nuối

Không phải giấc mơ vì em vỡ tan)

Nhưng trong một nghĩa nào, vì mang bệnh kinh niên lãng mạn, tôi nghĩ rằng mỹ nhân Ngô Đình Lệ Thủy mất sớm như vậy cũng hay. Để không bao giờ cho thế gian thấy tóc mình bạc màu.

Portland, 1/2011

KT

CHUYỆN CON RUỒI

NGUYỄN NHẬT ÁNH
 

 

Con ruồi nhỏ, nhỏ xíu. Vậy mà cái nhỏ xíu đó đôi khi lại là nguyên nhân của những việc tày đình.
Rất có thể hai vợ chồng đâm đơn ra tòa ly dị nhau chỉ bởi một con ruồi. Ai mà lường trước được những việc thần kỳ đó!

Tôi ốm. Điều đó vẫn thỉnh thoảng xảy ra cho những người khỏe mạnh. Và vợ tôi pha cho tôi một ly sữa. Tôi nốc một hơi cạn đến nửa ly và phát hiện ra trong ly có một con ruồi. Con ruồi đen bập bềnh trong ly sữa trắng, "đẹp" kinh khủng!
Thế là mọi chuyện bắt đầu.Tôi vốn rất kỵ ruồi, cũng như gián, chuột, nói chung là kỵ tất thảy các thứ dơ bẩn đó. Tối đang nằm mà nghe tiếng chuột bò sột soạt trong bếp là tôi không tài nào nhắm mắt được. Thế nào tôi cũng vùng dậy lùng sục, đuổi đánh cho kỳ được. Bằng không thì cứ gọi là thức trắng đêm.
Vậy mà bây giờ, một trong những thứ tôi sợ nhất lại nhảy tót vào ly sữa tôi đang uống, và đã uống, nói trắng ra là nhảy tót vào mồm tôi. Biết đâu ngoài con ruồi chết tiệt trong ly kia, tôi lại chẳng đã nuốt một con khác vào bụng. Mới nghĩ đến đó, tôi đã phát nôn. Thấy tôi khạc nhổ luôn mồm, vợ tôi bước lại, lo lắng hỏi:
- Sao vậy anh?
Tôi hất đầu về phía ly sữa đặt trên bàn:
- Có người chết trôi kia kìa!

Vợ tôi cầm ly sữa lên:
- Chết rồi! Ở đâu vậy cà?
- Còn ở đâu ra nữa! - Tôi nhấm nhẳng - Chứ không phải em nhặt con ruồi bỏ vào ly cho anh à!

Vợ tôi nhăn mặt:
- Anh đừng có nói oan cho em! Chắc là nó mới sa vào!
- Hừ, mới sa hay sa từ hồi nào, có trời mà biết!


Vì tôi đang ốm nên vợ tôi không muốn cãi cọ, cô ta nhận lỗi:
- Chắc là do em bất cẩn. Thôi để em pha cho anh ly khác.
Tôi vẫn chưa nguôi giận:
- Em có pha ly khác thì anh cũng đã nuốt con ruồi vào bụng rồi!

Vợ tôi trố mắt:
- Nó còn trong ly kia mà!
- Nhưng mà có tới hai con lận. Anh uống một con rồi.
- Anh thấy sao anh còn uống?
- Ai mà thấy!
- Không thấy sao anh biết có hai con?

Tôi tặc lưỡi:
- Sao lại không biết? Uống vô khỏi cổ họng, nghe nó cộm cộm là biết liền.

Vợ tôi bán tính bán nghi. Nhưng vì tôi đang ốm, một lần nữa cô ta sẵn sàng nhận khuyết điểm:
- Thôi, lỗi là do em bất cẩn! Để em...

Tôi là tôi chúa ghét cái kiểu nhận lỗi dễ dàng như vậy. Do đó, tôi nóng nảy cắt ngang:
- Hừ, bất cẩn, bất cẩn! Sao mà em cứ bất cẩn cả đời vậy?

Vợ tôi giật mình:
- Anh bảo sao? Em làm gì mà anh gọi là bất cẩn cả đời?
- Chứ không phải sao?
- Không phải!

À, lại còn bướng bỉnh! Tôi nheo mắt:
- Chứ hôm trước ai ủi cháy cái quần của anh?
- Thì có làm phải có sai sót chứ? Anh giỏi sao anh chẳng ủi lấy mà cứ đùn cho em!
- Ái chà chà, cô nói với chồng cô bằng cái giọng như thế hả? Cô nói với người ốm như thế hả? Cô bảo tôi lười chảy thây chứ gì? Cô so sánh tôi với khúc gỗ phải không? Ái chà chà...

Thấy tôi kết tội ghê quá, vợ tôi hoang mang:
- Em đâu có nói vậy!
- Không nói thì cũng như nói! Cô tưởng cô giỏi lắm phỏng? Thế tháng vừa rồi ai làm cháy một lúc hai cái bóng đèn, tháng trước nữa ai phơi quần áo bị đánh cắp mà không hay? Cô trả lời xem!

Vợ tôi nhún vai:
- Anh lôi những chuyện cổ tích ấy ra làm gì? Hừ, anh làm như anh không bất cẩn bao giờ vậy! Anh có muốn tôi kể ra không? Tháng trước ai mở vòi nước quên tắt để cho nước chảy ngập nhà? Anh hay tôi? Rồi trước đó nữa, ai làm mất chìa khóa tủ, phải cạy cửa ra mới lấy được đồ đạc?

Tôi khoát tay:
- Nhưng đó là những chuyện nhỏ nhặt! Còn cô, năm ngoái cô lấy mấy triệu cho bạn bè mượn bị nó gạt mất, sao cô không kể luôn ra?
- Chứ còn anh, sao anh không kể chuyện anh đi coi đá gà bị mất xe? Rồi năm ngoái, ai nhậu xỉn bị giật mất điện thoại?


Cứ như thế, như có ma xui quỉ khiến, hai vợ chồng thi nhau lôi tuột những chuyện đời xửa đời xưa của nhau ra và thay nhau lên án đối phương, không làm sao dừng lại được. Tôi quên phắt là tôi đang ốm. Vợ tôi cũng vậy. Chúng tôi mải mê vận dụng trí nhớ vào việc lùng sục những khuyết điểm tầng tầng lớp lớp của nhau.
 
Và thật lạ lùng, có những chuyện tưởng đã chìm lấp từ lâu dưới bụi thời gian, tưởng không tài nào nhớ nổi, thế mà bây giờ chúng lại hiện về rõ mồn một và chen nhau tuôn ra cửa miệng. Từ việc tôi ngủ quên tắt tv đến việc vợ tôi mua phải cá ươn, từ việc tôi bỏ đi chơi ba ngày liền không về nhà đến việc vợ tôi đi dự sinh nhật bạn đến mười hai giờ khuya v.v..., chúng tôi thẳng tay quậy đục ngầu quá khứ của nhau và vẽ lên trước mặt mình một bức tranh khủng khiếp về đối tượng.
Trời ơi! Thế mà trước nay tôi vẫn sống chung với con người tệ hại đó! Thật không thể tưởng tượng nổi! Tôi cay đắng nhủ thầm và bùng dậy quyết tâm phá vỡ cuộc sống đen tối đó. Tôi đập tay xuống bàn, kết thúc cuộc tranh cãi:
- Thôi, tra khảo hành hạ nhau thế đủ rồi! Tóm lại là tôi hiểu rằng tôi không thể sống chung với cô được nữa! Tôi ngán đến tận cổ rồi!

Vợ tôi lạnh lùng:
- Tùy anh!

Câu đáp cộc lốc của vợ không khác gì dầu đổ vào lửa. Tôi nghiến răng:
- Được rồi! Cô chờ đấy! Tôi làm đơn xin ly hôn ngay bây giờ!

Tôi lập tức ngồi vào bàn và bắt đầu viết đơn. Ngòi bút chạy nhoáng nhoàng trên giấy với tốc độ 100km/giờ.
Viết và ký tên mình xong, tôi đẩy tờ đơn đến trước mặt vợ. Cô ta cầm bút ký rẹt một cái, thậm chí không thèm liếc qua xem tờ đơn viết những gì.
Thế là xong! Tôi tặc lưỡi và thở ra, không hiểu là thở phào hay thở dài. Cuộc đời cứ như xi-nê-ma, nhưng biết làm thế nào được!
Ký tên xong, vợ tôi đứng lên và cầm lấy ly sữa.
- Cô định làm gì đấy?
- Đem đổ đi chứ làm gì!
- Không được! Để ly sữa đấy cho tôi! Tôi phải vớt con ruồi ra, gói lại, đem đến tòa án làm bằng cớ!

Đặt ly sữa xuống bàn, vợ tôi lẳng lặng đi vào phòng ngủ, đóng sập cửa lại. Trong khi đó, tôi hì hục lấy muỗng vớt con ruồi ra.

Tôi ngắm con ruồi nằm bẹp dí trên đầu muỗng và có cảm giác là lạ. Tôi đưa con ruồi lên sát mắt, lấy tay khảy nhẹ và điếng hồn nhận ra đó là một mẩu lá trà.